Hiển thị các bài đăng có nhãn blogpost. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn blogpost. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2020

A summary note of "Ask the Cognitive Scientist: How Can Educators Teach Critical Thinking? - By Daniel T. Willingham"

In his newly-published article, Professor Willingham discusses how educators can think about teaching critical thinking for their students. He first explains that critical thinking involves three components (novel, self-directed, and effective); then, he answers the questions, such that: Can critical thinking be taught? (Yes, but a qualified yes, if taking transfer of learning into account). Then, what is the nature of critical thinking? (Both domain-specific - i.e. history and engineering involve different ways of “analyzing, synthesizing, and evaluating” the problems, and universal - i.e. law of large number is largely useful, straw-man arguments are weak). So, how can we be better at critical thinking? In the long term, raft of practice, that is, practice to recognize problems and link it to the source problem solved before). But is there a way to be better faster? Yes, to teach problem comparison explicitly (i.e. labelling steps with generic goals in solving math works). 

But most critical thinking situations are unique and not clearly defined problems, how do we foster transfer of learning here? The key is extensive knowledge pertained to the domain of interest. Knowledge frees up space in limited working memory so other complicated thinking and novel connections occur more efficiently and effectively. Knowledge also facilitates deployment of thinkings strategies learnt in class. Here, psychology students (or any other majors) must learn the perennial lesson of why you should not shy away from foundational (aka. theory) modules in favor of the glossy “pragmatic” modules). 

So, finally, how to teach students to think critically? Professor Willingham suggests a four-step plan. First, identify what critical thinking is in your domain. Second, identify what domain-specific content that students must know. Third, sequence of learning matters. And lastly, decide the skills to be revisited (continued educating) years later into the career (some skills less cardinal for that profession are allowed not to be sharpened). 

Last but not least, some pragmatic matters need to be considered. First, it can be both taught in a separate module and can be taught by individual educators in their own course. Young age students are possible and encouraged. All students, regardless of socio-economic status, should have equal access. Lastly, assessment is challenging but would be more straightforward if the 04-stage plan above is implemented. 

---

Reading this article makes me think about how important it is for psychology students to be able to master the critical thinking skills. Many bachelors will not work in a clearly-defined context (i.e. counseling or therapy) and will have to enter the industry choosing from a wide-ranging pool of jobs which are not necessarily have anything directly to do with designing an experiment or setting up a counseling session. 

Thứ Hai, 11 tháng 11, 2019

Danh sách đọc #45,46

1. Rebecca Saxe. Your Brain: Flexible or Hard-Wired? A new book's claims about brain plasticity may be overstated - Review of The Brain That Changes Itself. (Link)

2. Rebecca Saxe. The Forbidden Experiment: What can we learn from the wild child? – Boston Review. (Link) 

3. Rebecca Saxe. An introduction to Cognitive Science of Moral reasoning – Boston Review. (Link)

4. Harry Frankfurt. On Bullshit. (Link)

5. The Guardian. Inside the mind of the bullshitter: Science Weekly podcast (Link) 

6. The Guardian. Taking on Eysenck: one man's mission to challenge a giant of psychology – Science Weekly podcast. (Link)

7. Saxe, R. (2005). Can the paradoxes of human emotion be best explained by art or by experimental
psychology? Literary Review of Cananda, 13(4), 6-8. (PDF) 

8. In the tough academic job market, two principles can help you maximize your chances. Science Mag. (Link)

9. Screen Use Tied to Children’s Brain Development. NYTimes. (Link)

10.  Expert reaction to study on screen use and white brain matter in children. (Link)

11. Bảo Quyên. Luật bất thành văn. VNExpress. (Link)

12. Nguyễn Lân Hiếu. Ứng xử với Trung Quốc. VNExpress. (Link)

13. Đức Hoàng. Chuyện tay buôn người. VNExpress. (Link)

14. The happiness ruse. Aeon. (Link)

   

Thứ Ba, 15 tháng 10, 2019

Danh sách đọc #42

Trẻ nhỏ có khả năng 'dạy học' hơn ta tưởng! Và việc học để dạy (cho người khác) và học để khám phá (cho chính mình) đòi hỏi những cách thức tư duy khác nhau. Đó là những chiêm nghiệm của chính mình qua quá trình đi dạy trong 2 năm qua. Nghiên cứu của GS. Gweon & Schulz (2019) thật thú vị ở chỗ đã chỉ ra sự phân biệt này ở trẻ nhỏ mới 4 tuổi thôi. Trẻ con thật là những sinh vật tuyệt vời nhất, kỳ diệu nhất, và quý báu vô cùng! Những giáo viên từ trong trứng nước là đây chứ đâu. :)

Young children also spontaneously seek to
inform and demonstrate things to others, taking
into account observers’ knowledge and goals. Even
preverbal infants are more likely to point to inform
adults more when the adults are ignorant than
when they are knowledgeable (Liszkowski, Carpenter, & Tomasello, 2008), and toddlers readily override an adult’s requests for help to provide better,
alternative means to achieve the adult’s goals (Martin
& Olson, 2013).

Chủ Nhật, 15 tháng 9, 2019

danh sách đọc/nghe #36,37

1. Bài viết trên NYT trong chuyên mục Tình yêu thời hiện đại (Modern Love) là một câu chuyện tình giữa hai người thuộc hai giai cấp khác nhau trong xã hội Anh hiện đại. Ngoài việc câu chuyện này có liên quan tới vấn đề mà tôi luôn quan tâm (ảnh hưởng của giai tầng xã hội lên đặc điểm tâm lý và nhận thức) thì  tác giả còn khéo léo đặt một câu hỏi có tính thời sự cao vào thời điểm này ở cuối bài. Nước Anh mà tôi đem lòng yêu sau 1 năm chung sống, liệu sẽ như thế nào sau Brexit? Có lý do nào để tôi quay lại lần nữa - lần này sẽ dài hơn lần trước không? Ôi nước Anh mà tôi đã từng phải lòng... His Family Had Money. Mine Didn’t.

2. Một bài bàn về sự đổ vỡ trong tuyển sinh giáo dục đại học ở Mỹ. The Great Enrollment Crash

3. Bài giảng của GS. Barbara Tvesky về nội dung cuốn sách mới của bà. Mind in Motion

4. Bài giảng của 2 nhà khoa học về nỗi đau (pain). Cái này có liên quan tới câu chuyện mà tôi và Yến có nói đến hồi đầu tháng 7 khi ở nhà ở Biên Hoà, và tự hỏi, 'Liệu mình có làm con gián đau khi giết nó mà nó không chết ngay hay không?' và 'Liệu khi lỡ làm bị thương côn trùng thì có nên giết nó luôn hay không?'. Mình đã đưa ra lập luận rằng đau đớn là cảm giác chỉ có ở người [và điều này được khẳng định bởi một nhà côn trùng học trên Quora rằng côn trùng không có cảm đau (no pain receptor)]. Do we understand pain?

5. Bài báo về kết quả một nghiên cứu mới về bằng chứng của ảnh hưởng của ngôn ngữ và văn hoá lên tư duy (the cultural conditioning of language on thinking) từ tuổi lên ba. How Early Do Cultural Differences Start? Đọc bài báo cáo gốc ở đây: Context shapes early diversity in abstract thought

6. Bài review về Susan Sontag của tác giả Benjamin Moser trên tờ The Atlantic. Misunderstanding Susan Sontag. Bài viết có liên hệ với hiện tượng mà tôi mới để ý quan sát gần đây từ khi làm nghiên cứu về giới trong y văn cũng như trong trải nghiệm của chính mình và những người xung quanh rằng vẻ ngoài của phụ nữ có thể liên quan tới việc năng lực và tiếng nói của họ bị coi nhẹ ở nơi công sở.

7. Susan Sontag nói về nuôi dạy con. How to Raise a Child: 10 Rules from Young Susan Sontag

8. Tuần cuối của tháng 8 tôi đi nghỉ mát ở Bình Định - Phú Yên, mỗi ngày đều đi bộ trung bình 8 cây số. Và còn đọc được gần 2/3 cuốn Đường Xưa Mây Trắng của Thích Nhất Hạnh về cuộc đời và những lời dạy của Phật. Cảm giác rất bình yên và hạnh phúc khi đọc những dòng viết giản dị của thầy Hạnh và lời dạy của Bụt với học trò.

Thứ Ba, 27 tháng 8, 2019

danh sách đọc #35

Một bài viết về 'Mentorship', một mối quan hệ đặc biệt và quan trọng ở bậc đại học và sau đại học.

Một series bài viết về tâm lý học phát triển với những tổng quan thú vị và giúp người đọc có cái nhìn rộng và sâu về những nghiên cứu từ đầu cho đến mới nhất về sự phát triển của con người. Xuất bản bởi NXB Wiley, trong tạp chí Wires Cognitive Science cuối năm 2016. Rất hay và đáng nghiền ngẫm sau khi đọc những quyển handbook như cuốn của Goswami (2011) về phát triển nhận thức hay Smith (2011) về phát triển cảm xúc - xã hội cũng của NXB Wiley. How We Develop — Developmental Systems and the Emergence of Complex Behaviors

Đọc về sự ra đời của Sci-Hub và chủ của nó Alexandra Elbakyan lại làm cho ta suy nghĩ về Open Access và về những vấn đề của thế giới, của chính trị, và các giá trị về công bằng và dân chủ. Cái chết của Aaron Swartz mà người ta cho rằng do chính quyền Mỹ bức tử và vụ Elsevier kiện Elbakyan làm cho ta phải suy nghĩ, liệu những người thông minh và không chịu thỏa hiệp những giá trị mà họ tin tưởng tuyệt đối với cách mà xã hội đangvận hành có còn chốn dung thân và sống yên bình với tài năng trời ban của họ? Đọc một số bài để nghĩ về phong trào Open Access và quyền tự do thông tin.  Should All Research Papers Be Free? Đọc lại bài dịch của cô Phạm Thị Ly Kinh doanh ấn phẩm khoa học.

Và thêm một số bài đọc khác về mối quan hệ tưởng chừng có thể rạch ròi phân định nhưng hóa ra lại không đơn giản của khoa học và chính trị. Is Science Political?, The Virtue of Scientific Thinking, Democratic Science.

Và một số tin tức về Hồng Kông, mà báo chí quốc tế dự đoán có thể là một Thiên An Môn 2019... Những thước video làm cho ta phải nổi da gà và cầu nguyện cho Hồng Kông. Trong tuần này, người HK kỉ niệm 30 năm Baltic Way bằng cách tự lập một hàng người dài 50km dọc HK và lên tới đỉnh núi Sư Tử. Bạo chính, Bạo loạn.

Thứ Ba, 20 tháng 8, 2019

danh sách đọc (nghe) #34

Image result for reading books girl images
Photo source: Internet
1. Khối lượng công việc của một giáo sư đại học ở các đại học lớn của phương Tây được bàn luận qua bài viết về 'nhiều đầu việc' mà họ được kỳ vọng đảm nhiệm. Đối nghịch với tải trọng và đòi hỏi công việc là mức lương 'một đầu việc' của giáo sư đại học. Being a professor is too many jobs, perhaps? Điều này phải làm ta suy nghĩ về việc các sinh viên sau đại học và nghiên cứu sinh tiến sĩ và hậu tiến sĩ, hoặc nói chung là những nhà nghiên cứu trẻ có nên tiếp tục đâm đầu vào những trường đại học danh tiếng hay không? Khi kỳ vọng về 'lượng' quá cao thì 'phẩm' làm sao đạt được? Có lẽ chăng, chúng ta nên thông thái hơn trong việc 'chọn nơi gửi mình'? Đọc thêm bài The tradeoff between productivity and risk-taking và suy nghĩ về vấn đề 'phẩm' và 'lượng'. 

2. Một bước tiến rất đáng ngưỡng mộ của tạp chí Nature trong việc minh bạch hóa và tôn trọng kết quả nghiên cứu. Nature Human Behavior số mới ra có đăng một trong những bài báo 'registered report' đầu tiên của He & Cote, Self-insight into emotional and cognitive abilities is not related to higher adjustment, một bằng chứng trái chiều về vai trò của khả năng tự nhận biết bản thân trong tâm lý và tư duy. Quy trình của một registered report bắt đầu bằng việc gửi proposal đăng ký trước các bước tiến hành và giả thuyết nghiên cứu. Khi đã được duyệt thì kết quả nghiên cứu dù là không ủng hộ giả thuyết ban đầu cũng sẽ được công bố. Dĩ nhiên với yêu cầu là các bước thiết kế, thu thập và phân tích số liệu phải được thực thực hiện hết sức chặt chẽ (robust) và được công khai trên tạp chí. Bài báo này là một ca cần lưu lại để học hỏi. Các tài liệu về coding trên R được tác giả cung cấp hết sức khoa học và rõ ràng, rất tiện để mình học. 

3. Tập mới nhất của Last Week Tonight, John Oliver đụng chạm đến vấn đề muôn thuở: Thiên kiến giới trong y khoa. Bias In Medicine: Last Week Tonight with John Oliver (HBO). 

4. Bài báo của Roy et al. (2006) mình đã nghe trên podcast của The Guardian rất lâu rồi nhưng giờ mới có dịp đọc bài gốc. The Human Speechome Project. Dự án rất thú vị, giống như sự kết hợp của Piaget, machine learning, computational modelling, và các công nghệ nghe nhìn tân tiến nhất. 

5. Bài viết trên The Conversation Global về tình hình của Hồng Công. Một số lối viết câu và từ vựng hay, có thể lưu lại để học và dùng. (v.d. Beijing has a long-term Hong Kong challenge on its hands, one that in many ways is of its own making.) Beijing is moving to stamp out the Hong Kong protests – but it may have already lost the city for good.

6. Bài viết về Elizaberth Warren. Mô tả tiểu sử và triết lý giảng dạy của Warren. Elizabeth Warren’s Classroom Strategy A lifelong teacher, she’s the most professorial presidential candidate ever. But does America want to be taught?

Thứ Ba, 11 tháng 6, 2019

Phân biệt đối xử giới là gì?

Bài viết bên dưới bàn và chia sẻ một phần kết quả nghiên cứu mà tôi đã làm về phân biệt đối xử giới ở Việt Nam trong năm 2018.

Mời bạn xem bản preprint của bài báo cáo full bằng tiếng Anh ở đây. 
Link bài full tiếng Việt ở đây. 

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU: Tương đồng với kết quả từ các quốc gia khác như Mỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Chile, Hà Lan, Pháp, Anh, Nhật, Nam Phi, v.v…, người Việt Nam cho thấy họ có thái độ phân biệt đối xử theo giới (sexism/ sex discrimination), thể hiện qua hai khía cạnh là ác cảm và thiện cảm. Mức độ phân biệt đối xử này có liên quan với mức độ hài lòng trong công việc và sức khỏe tinh thần của người Việt Nam. Để đi đến kết luận trên, nhóm nghiên cứu của Bộ môn Tâm lý học thuộc Đại Học Hoa Sen đã kiểm tra dữ liệu của 542 người đi làm trên khắp Việt Nam bằng cách mời họ điền vào bảng khảo sát trực tuyến gồm các thang đo đã chuẩn hóa và được dịch sang tiếng Việt về thái độ giới, sự hài lòng trong công việc, và mức độ stress.

-----

PHẦN 1: PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ THEO GIỚI LÀ GÌ?

Nếu không có tác động nào bởi con người, thì xác suất một em bé ra đời là trai hoặc gái là 1/2. Và nếu giả định tỉ lệ sinh bằng tỉ lệ tử ở hai giới, thì ở bất kỳ thời điểm nào, 50% dân số thế giới là phụ nữ.

Trong khi đó:
Trong số 45 tổng thống Mỹ kể từ George Washington nhậm chức tổng thống đầu tiên vào năm 1789 cho đến thời Donald Trump đương nhiệm từ 2017 đến nay, không có một nữ tổng thống nào. Tỉ lệ là 0%.
Trong số các lãnh đạo của 500 công ty thuộc Fortune 500 list năm 2018, chỉ có 24 là phụ nữ. Tỉ lệ là 4.8%.
Trong số các thành viên nội các (ủy viên quốc hội) của các quốc gia trên thế giới, chỉ có 24% là phụ nữ. Ở Việt Nam, tỉ lệ này nhỉnh hơn trung bình thế giới một chút, vào khoảng 26%.
Ở một số quốc gia như Nhật, Hàn, Mỹ, tỉ lệ nữ bác sĩ là dưới 40%. Ở Nhật, tỉ lệ này là 20.3% (số liệu năm 2015, OECD).
Bạn chỉ cần gõ tìm ‘rate of female x around the world’ là sẽ tìm được các con số thống kê tương tự. Với x là những nghề như: bác sĩ, kỹ sư, nhà lãnh đạo chính trị, lãnh đạo công ty, nhà toán học, nhà vật lý học…

Những tỉ lệ kể trên có sự chênh lệch rất lớn so với tỉ lệ giới trong dân số. Có những tỉ lệ quá thấp và mặc dù tích lũy trong nhiều năm vẫn rất thấp (trường hợp tổng thống Mỹ) để có thể tin là hoàn toàn do ngẫu nhiên.

Theo thống kê ở Mỹ trong 10 năm vừa qua (2009 - 2018), tỉ lệ thu nhập của nữ so với nam dao động từ 80.3% - 82.5% (công việc tương đương, các yếu tố khác có liên quan như tuổi tác và trình độ là như nhau). Điều này có nghĩa là, cứ mỗi 1 đô la đàn ông kiếm được, thì phụ nữ được trả 80 xu.

Phụ nữ thường làm hầu hết hoặc phần lớn công việc nhà mang tính thường nhật, mặc dù họ vẫn đi làm mỗi ngày với thời gian y như đàn ông. Trong một báo cáo của ILO - Gallup năm 2017, 44% đàn ông Việt Nam và 38% đàn ông nói chung nói rằng họ muốn người phụ nữ trong gia đình mình có thể vừa có công việc làm được trả lương và vừa ở nhà chăm sóc gia đình (2).

Những con số trên đây là bằng chứng của một vấn đề xã hội lớn mang tên: bất bình đẳng giới (gender inequality). Tất nhiên, những chỉ số về bất bình đẳng giới còn bao hàm rất nhiều yếu tố khác nữa như cơ hội giáo dục cho trẻ em gái, đa dạng ngành nghề, cơ hội thăng tiến cho phái nữ, v.v… Việt Nam đứng thứ 69 trong tổng số gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ về chỉ số bất bình đẳng giới theo báo cáo của UNDP năm 2017.

Nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào khái niệm phân biệt đối xử giới (PBĐX) vì hai lý do chính. Một mặt, các nghiên cứu về giới đã làm ở Việt Nam thường tập trung vào các chỉ số của bất bình đẳng giới thay vì tìm hiểu nhận thức về giới của mỗi cá nhân. Mặt khác, nghiên cứu đã chỉ ra rằng thái độ về vai trò giới của mỗi thành viên trong một xã hội có thể tạo ra bất bình đẳng trong xã hội đó (3,4). PBĐX giới bao gồm các tư duy khuôn mẫu giới, định kiến giới, và những thái độ, kỳ vọng hay cách đối đãi với một người theo những cách khác nhau tùy vào giới tính của họ. ‘Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm’, làm trai cho đáng nên trai’, hay ‘đàn bà học cao khó lấy chồng’ là những quan niệm có tính phân biệt đối xử giới bởi vì nó đóng khung cho phụ nữ và đàn ông những vai trò khác nhau. Ở các thế kỷ trước, một số quan niệm Khổng Tử, Nho giáo của Trung Quốc như ‘tam tòng tứ đức’, ‘trai anh hùng, gái thuyền quyên’ có du nhập vào dân gian bằng con đường văn hóa, giáo dục, đặc biệt ảnh hưởng đến những gia đình có học thức. Đại đa số quần chúng thuần nông ít học hơn khá bình đẳng, tự do yêu đương, thành thân với người mình yêu, sau khi kết hôn cả hai cùng ‘bình đẳng’ và chia sẻ trách nhiệm gia đình với nhau (5). Vào thời kỳ công nghiệp hóa những năm 1960, phụ nữ Mỹ bị bó hẹp trong khuôn bếp - tháp ngà 'mơ ước' của phụ nữ trẻ. Mục tiêu quan trọng nhất của người phụ nữ đến tuổi trưởng thành là có một người đàn ông đủ điều kiện kinh tế kết hôn với mình. Khi họ có cảm giác không ổn mà không thể nêu rành rọt lý do tại sao, bác sĩ liền chẩn đoán rằng họ mắc chứng tâm thần (mental illness) vì chỉ có điên mới không hài lòng với đời sống được cung phụng đầy đủ như hiện có - và quan trọng hơn đó là mô hình kiểu mẫu của xã hội, là mục tiêu cuộc đời của mọi phụ nữ (6). Xã hội công nghiệp vận hành suôn sẻ khi phụ nữ ở nhà lo nhà cửa, con cái, để những người đàn ông toàn tâm toàn ý đi làm công nhân ở xưởng. Việt Nam lại có truyền thống kêu gọi phụ nữ tham gia lao động sản xuất, tham gia chiến đấu trong quá khứ. Ngày nay, ở những gia đình bình dân và trung lưu, phụ nữ Việt Nam vẫn đi làm để chia sẻ gánh vác tài chính, vì thời buổi kinh tế có bao giờ thôi khó khăn! Nhưng với điều kiện cô ta vẫn phải đảm bảo tề gia nội trợ. Bởi vì cô ấy mà không làm, thì ai vào đây? Đi làm về, vợ nấu nướng, chồng ngồi đọc báo, xem ti vi chờ cơm, ăn xong vợ rửa chén dọn dẹp, chồng lại đọc báo, xem ti vi (hoặc giờ là ôm máy vi tính) là chuyện thường tình ở huyện. Chỗ của đàn ông không phải là cái bếp. Anh ta nếu phải làm việc nhà thì chỉ là những việc lớn thảng hoặc như sửa ống nước hay quét lại cái tường nhà. Con cái cứ nhìn vào bố mẹ, y như thế mà sống nếp cũ khi có gia đình riêng. Vòng lặp của vai trò giới cứ thế tiếp diễn mà chẳng ai buồn bận tâm, vì cuộc sống đã quẳng cho đủ các mối lo rồi, ai rỗi hơi đào sới lên cho mất đoàn kết, lủng củng nội bộ.

Hiện nay, giới nghiên cứu về định kiến nhất quán với lý thuyết rằng PBĐX giới tồn tại ở hai dạng: ác cảm và thiện cảm (7). PBĐX ác cảm là thái độ đánh giá thấp năng lực và phẩm chất của phụ nữ và vì vậy cư xử có tính áp đặt trong mối quan hệ với những người phụ nữ xung quanh và cho rằng phụ nữ đòi hỏi quyền lợi hoặc công bằng là những người có tính thù địch và muốn tranh đua ngôi vị thống trị của nam giới. Quấy rối và tấn công tình dục là một biểu hiện của PBĐX ác cảm với phụ nữ, rằng phụ nữ là vật thể nhục tính (sex object) chứ không phải một cá thể có những giá trị ngang hàng với nam giới. Thái độ thù địch, ác cảm với các nhà nữ quyền hoặc những người phụ nữ thành công trong sự nghiệp hoặc thóa mạ, dè bỉu nữ lãnh đạo một cách tục tĩu, thô lỗ cũng là biểu hiện của thái độ PBĐX giới ác cảm.

PBĐX thiện cảm là thái độ cho rằng phụ nữ sở hữu những phẩm chất và khả năng mà nam giới không có như nhạy cảm hơn, có gu thẩm mĩ hơn, và có tính thuần khiết, ấm áp. Họ cho rằng phụ nữ cần được đàn ông chăm lo, bảo vệ, và gánh vác trách nhiệm tài chính. Đổi lại, phụ nữ đóng vai trò bổ trợ, hoàn thiện đàn ông. Đàn ông cần có phụ nữ yêu thương và chăm lo đời sống tình cảm, quán xuyến gia đình để họ yên tâm ‘trở thành chính mình’ - người đàn ông sắm vai trụ cột gia đình và là thành viên tích cực trong xã hội. Nhìn chung, PBĐX thiện cảm thoạt nhìn thì dường như có ý tốt từ phía chủ thể phân biệt, nhưng thực sự thì nó cũng ngụ ý rằng phụ nữ thua kém đàn ông ở những phẩm chất cần thiết để làm chủ xã hội. Không chỉ nam giới mà phụ nữ cũng có thái độ phân biệt đối xử giới thiện cảm. Họ có thể lên án và nhận ra sự sai trái của việc quấy rối tình dục hoặc thóa mạ phụ nữ ngay lập tức. Nhưng họ chấp nhận một cách hiển nhiên việc mình phải đảm đương hầu hết việc nhà và phần lớn việc chăm sóc, dạy dỗ con cái. Đổi lại, họ có một mái ấm gia đình và một người chồng chí thú làm ăn, có trách nhiệm với vợ con, không có tật xấu gì đáng kể.

Những quan niệm phân biệt đối xử, dù là ác cảm hay thiện cảm, đều có tác hại đối với cả người bị phân biệt và người phân biệt. Dù là ở góc độ cá nhân, tổ chức, hay xã hội thì các dạng phân biệt đối xử theo giới đều có những tác động tiêu cực.

PHẦN 2: PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ GIỚI THÌ CÓ LIÊN QUAN GÌ ĐẾN TÔI?

TÀI LIỆU THAM KHẢO

(1). Phạm T. T. Tiên, Nguyễn H. Ân, Nguyễn T. Loan, Phan T.H.D Thy, Lê M. Thuận (2018). Mối quan hệ giữa phân biệt đối xử theo giới với sự hài lòng trong công việc và sức khỏe tinh thần của người lao động Việt Nam. Dự án nghiên cứu được tài trợ bởi Tổ chức lao động quốc tế (ILO) và Bộ Lao Động Thương Binh & Xã Hội trong khuôn khổ cuộc thi Nghiên cứu Lao động 2018 (preprint)

(2). ILO-Gallup (2017). Towards a better future for women and work: Voices of women and men. (pdf)

(3). Brandt, M. J. (2011) ‘Sexism and gender inequality across 57 societies’, Psychological Science, 22(11), pp. 1413–1418. doi: 10.1177/0956797611420445.

(4). Glick, P., Fiske, S.T., (2000), “An ambivalent alliance: Hostile and benevolent sexim as complementary justifications for gender inequality”, American Psychologist, Vol 56, No.2, 109 – 118. American Psychological Association, US.

(5). Thông tin từ Th.S Đỗ Hồng Quân – nhà nghiên cứu và giảng viên môn Giới và phát triển, chia sẻ về Luận văn tiến sĩ của một nghiên cứu sinh người Hàn về Vị thế của phụ nữ Việt Nam qua bộ Lê triều hình luật, tại hội thảo Gender Talk ngày 14/3 tại trường Đại Học Hoa Sen.

(6). Friedan, Betty. (1963). Bí ẩn nữ tính. Nguyễn Vân Hà dịch.TP. HCM. NXB: Hồng Đức

(7). Glick, P. & Fiske, S. T. (1996) ‘The Ambivalent Sexism lnventory: Differentiating hostile and benevolen sexism’, Journal of Personality and Social Psychology, 70(3), pp. 491–512.

Thứ Bảy, 12 tháng 1, 2019

Liệu chúng ta có thể trở thành những người lãnh đạo không?*

Tôi rất vinh dự và vui sướng được đứng ở đây hôm nay cùng các bạn. Trong số các bạn, có những người đang là hoặc sẽ là lãnh đạo tại cơ quan mà bạn làm việc, của một cộng đồng yếu thế mà bạn đứng ra bảo vệ quyền lợi, hoặc là của đất nước mà bạn gọi là ‘nhà’. Tôi ước gì ông bà nội của tôi có thể nhìn thấy tôi ở đây hôm nay cùng các bạn. Họ đã dõi bước chân tôi những năm tôi lăn xả vào cuộc đời sinh viên, rồi sau đó là nhưng năm va vấp, vất vả tìm kiếm con đường nghề nghiệp và bản sắc chuyên môn của mình. Tôi hy vọng câu chuyện của mình sẽ góp phần làm cho các bạn thêm tin tưởng rằng nếu chúng ta thực tâm mong muốn và làm việc chăm chỉ với tâm hồn trong sáng rộng mở, chúng ta sẽ tự mở ra cho mình rất nhiều cơ hội và khả năng giành lấy cho mình một cuộc đời hạnh phúc và có ích. Đối với những bạn đến đây với mục tiêu rất cụ thể là học hỏi về việc làm sao để lãnh đạo trong khi mà chúng ta không giữ một chức vụ trưởng hoặc phó nào đó trong cơ quan mình đang làm việc, tôi hy vọng bạn tìm thấy cho mình ý nghĩa thực sự đằng sau cụm từ ‘lãnh đạo’ hoa mĩ và có vẻ đáng sợ kia. Với tư cách là một người nghiên cứu về não bộ và hành vi của con người, tôi muốn nhấn mạnh với các bạn một điều rằng chúng ta sinh ra với những tiềm năng vô hạn, nhưng chúng ta lớn lên và đánh mất rất nhiều qua quá trình thích nghi và tiếp thu đời sống xã hội với nhiều rào cản vô hình. Và tôi không có chút nghi ngờ nào mà phải nói rằng, nếu chúng ta có thể tận dụng những gì chúng ta được tự nhiên ban cho, mỗi người trong chúng ta luôn có thể trở thành nhiều hơn những gì chúng ta đang thể hiện.

Để nói về đất nước quê hương của mình một cách hoàn toàn khách quan là điều thật khó. Việt Nam là nơi mà tôi sẽ luôn có những cảm xúc trìu mến nhất mỗi khi nhắc đến. Còn nước Anh lại là nguồn cảm hứng và là một phần bản sắc chuyên môn của tôi. Được gặp gỡ, có một năm gắn bó và rồi yêu mến nước Anh là một điều vô cùng may mắn đối với tôi. Quê hương thứ hai này có những nhà khoa học tận tụy và thầm lặng, có ngôi trường và người thầy đã dạy cho tôi biết thế nào là một người lãnh đạo học thuật chân chính. Các thầy cô của tôi, họ làm việc chăm chỉ và nghiêm túc. Họ làm cho mỗi bài giảng trở thành một trải nghiệm quý giá với một sinh viên bỡ ngỡ bước chân vào giới học thuật mà như Alice trong xứ sở thần tiên. Những bài giảng của họ không quyển sách giáo khoa nào có thể sánh ngang. Trên tất cả, những bài tập mà họ giao và các phản hồi thấu đáo mà họ gửi lại cho tôi là điều đặc biệt nhất của trải nghiệm đi học đại học sau nhiều năm tôi miệt mài tự học và phải tự làm giáo viên cho chính mình. Khi làm nghiên cứu, bằng thái độ kiên nhẫn, ủng hộ và cũng rất cẩn trọng trong việc đưa ra những chỉ dẫn, thầy tôi trao trách nhiệm học tập cho tôi và chính ông cũng giữ lấy trách nhiệm ấy cho mình.

Mối quan hệ với thầy hướng dẫn cũng là kim chỉ nan dẫn đường cho tôi trong con đường phát triển nghề nghiệp mới vừa chớm nở. Hiện nay, công việc của tôi ở trường đại học là giảng dạy và nghiên cứu. Tôi làm việc một tuần hơn 50 tiếng. Một mặt, tôi nghiên cứu và học tập về các lĩnh vực mà mình quan tâm. Tôi thiết lập mối quan hệ chuyên môn, cộng tác, và học hỏi từ các thầy cô, các đồng nghiệp trong và ngoài trường đại học mà tôi công tác. Những trải nghiệm này rèn luyện cho tôi tính khiêm nhường và nền tảng đạo đức trong nghiên cứu, vốn không phải là điều mà một sớm một chiều có thể cảm thụ và thực hành hết được. Trong học thuật hay bất kỳ lĩnh vực nào hiện nay, người lãnh đạo hoặc trưởng nhóm không nhất thiết là quản lý hay cấp trên của bạn. Tính chuyên môn hóa và tầm quan trọng của các dự án liên ngành hoặc đòi hỏi nhiều chuyên môn sâu tạo điều kiện cho mỗi người có thể thuyết phục người khác cùng đồng hành với mình trong một điều gì đó mà mình khởi xướng. Bạn có thể là sinh viên và có thể là nhà nghiên cứu trẻ mà vẫn có thể là người khởi xướng trong công việc của mình. Để tạo ra sự thay đổi, chúng ta cần thái độ và tinh thần trách nhiệm với sự thay đổi đó chứ không cần một vị trí.

Mặt khác, ở trên lớp, tôi làm việc chăm chỉ để nhóm ngọn lửa đam mê đối với ngành tâm lý học vào trong lòng các sinh viên của mình. Tôi cố gắng cấu trúc kiến thức một cách hệ thống đủ để sinh viên có được bức tranh lớn và tầm nhìn rộng mở về môn học và về những gì họ có thể làm được với những kiến thức đó. Tôi cũng cho sinh viên thấy rằng tôi kỳ vọng cao ở họ và sẵn lòng trợ giúp hết mình để sinh viên có thể vượt qua nỗi sợ và hiện thực hóa những khả năng của họ. Những cuộc thảo luận trong lớp, việc chia sẻ tài nguyên và kế hoạch học tập trước mỗi giờ lên lớp là một phần trong kế hoạch giảng dạy lấy sinh viên làm trung tâm và trao trách nhiệm cho người học của tôi. Với những mảng chuyên môn mà tôi không nghiên cứu sâu, nếu trong vòng quen biết của mình có ai đó có chuyên môn hơn, tôi tìm cách mời họ về chia sẻ cho sinh viên của tôi trong buổi học về chủ đề đó thay vì cố gắng đọc sách và tỏ ra mình thông thái trong mọi vấn đề. Điều đó đơn giản là không thể, ngay cả với những giáo sư lâu năm, huống hồ gì là tôi, một người vừa vỏn vẹn một năm kinh nghiệm làm nghề giảng dạy. Tôi không chắc là tất cả sinh viên đều yêu thích và cảm thấy thoải mái với những yêu cầu cao của tôi. Nhưng tôi có thể chắc rằng với những ai thực tâm mong muốn mở mang trí óc để tạo ra sự thay đổi nơi chính mình và những người xung quanh, thì tôi cũng không đến nỗi làm cho họ thất vọng.

Tóm lại, nếu định nghĩa lãnh đạo là tạo ra sự thay đổi thì mỗi người trong chúng ta đều có thể làm được nếu chúng ta thực tâm mong muốn. Chúng ta không cần phải đợi một vị trí hoặc chức danh. Hãy đầu tư vào bản thân, sống đúng với những niềm tin và con người của mình, làm việc chăm chỉ, thú nhận những trăn trở, những nỗi sợ hãi và niềm vui sướng trong lòng mình, và cuối cùng, hãy tin tưởng vào chính mình cũng như những người bạn đồng hành của chúng ta. Đó là khi chúng ta tạo ra sự thay đổi và trở thành nhà lãnh đạo không cần chức danh.

* Bài nói chuyện của ThS. Phạm Thị Thủy Tiên, Giảng viên bộ môn Tâm lý học – Khoa Khoa Học Xã Hội trường Đại Học Hoa Sen trong Chương trình Chevening Youth Talk – Lãnh đạo không chức danh do Đại Sứ Quán Anh ở Việt Nam tổ chức sáng ngày 12-1-2019 tại iTechBlack - Coworking Incubator, TP. HCM.

Chủ Nhật, 22 tháng 7, 2018

Triển vọng nghề nghiệp của ngành tâm lý học

Trước những đòi hỏi ngày một phức tạp hơn của nền kinh tế xã hội ngày nay, không riêng gì ở Việt Nam, tình trạng người trẻ tìm việc và nhà tuyển dụng không gặp được nhau và dường như đang đi trên hai đường thẳng song song là khá phổ biến. Hơn một phần ba các công ty trên toàn cầu gặp khó khăn trong quá trình tìm kiếm nhân lực chất lượng cao bởi vì sự thiếu hụt những kỹ năng then chốt ở người lao động như tư duy phân tích, giải quyết vấn đề, giao tiếp, hợp tác với đồng nghiệp và khả năng tự trau dồi kiến thức chuyên môn (Manpower Group, 2016; World Economic Forum, 2015). 

Có thể bạn chưa biết, sự thật là các cử nhân tâm lý sở hữu những kỹ năng vàng được chào đón bởi các nhà tuyển dụng. Sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành tâm lý có thể làm việc ở rất nhiều ngành nghề đa dạng từ công tác xã hội, giáo dục, sức khỏe, đến bán hàng, nhân sự và quản trị kinh doanh. Nếu bạn có khả năng và yêu thích nghiên cứu, muốn trở thành nhà tâm lý trị liệu, tâm lý lâm sàng, giảng viên hoặc nhà khoa học tâm lý làm việc tại các trường đại học hoặc viện nghiên cứu thì bạn có thể chọn tiếp tục học lên cao học tại Việt Nam hoặc trên thế giới. 

Bài viết này trình bày bốn kỹ năng quan trọng làm nên triển vọng nghề nghiệp đa dạng và ưu thế cạnh tranh của sinh viên tâm lý trong thị trường lao động chất lượng cao tại Việt Nam và thế giới. 

Kỹ năng tư duy cần thiết (critical thinking skills) 
Kỹ năng tư duy cần thiết là một hệ thống các phương pháp tư duy chủ động và phức tạp nhằm trả lời một câu hỏi hoặc tìm giải pháp cho một vấn đề. Khả năng phân tích, đánh giá những luận điểm, lập luận và bằng chứng của chính mình và người khác giúp người lao động làm chủ kiến thức và tư duy độc lập để xử lý những tình huống phức tạp của công việc. Ngay từ môn tâm lý học nhập môn ở năm nhất, sinh viên được tiếp cận với muôn vàn góc nhìn khác nhau về nguyên nhân và bản chất của hành vi con người, từ cấp độ vi mô nhất, là các nơ rôn trong não hộ, cho đến các mối quan hệ xã hội phức tạp của con người. Trong suốt bốn năm học, họ sẽ được học cách nhìn các hiện tượng tâm lý dưới nhiều lăng kính lý thuyết, phương pháp nghiên cứu, cách lập luận, và diễn giải để đi đến kết luận trên cơ sở cân nhắc cẩn thận dựa trên các tiêu chí rõ ràng. 

Kỹ năng giải quyết vấn đề (problem solving skills) 
Doanh nghiệp là nơi mà người lao động được kỳ vọng phải giải quyết nhiều vấn đề lớn nhỏ phát sinh hầu như mỗi ngày. Học tâm lý, sinh viên được học cách đặt câu hỏi nghiên cứu về các tiến trình tâm trí và hành vi của con người trong các bối cảnh khác nhau. Các câu hỏi này xoay quanh việc mô tả, lý giải, dự báo hay điều chỉnh hành vi của con người. Điểm manh của một sinh viên tâm lý là họ đã làm quen với việc xác định vấn đề, đề ra giả thuyết, lên kế hoạch nghiên cứu, thiết kế quy trình thu thập và phân tích dữ liệu để kiểm tra những giả thuyết đó và đi đến kết luận. Ngoài ra, sinh viên tâm lý được đào tạo bài bản cách thức tìm kiếm tài liệu trên internet, cách làm việc với dữ liệu định tính, định lượng và xử lý số liệu thống kê. Sinh viên cũng có khả năng đọc hiểu và đánh giá các tài liệu khoa học có liên quan đến lĩnh vực mà họ công tác trực tiếp như y tế, giáo dục, quản lý, nhân sự, và kinh doanh. Những năng lực này giúp cho sinh viên tâm lý trở thành người lao động có năng lực giải quyết vấn đề, ngay cả trong những điều kiện với nguồn lực tối thiểu. 

Kỹ năng giao tiếp (communication skills) 
Tâm lý học là ngành bắt buộc sinh viên phải đọc và viết nhiều so với mặt bằng chung nhiều môn học khác ở bậc đại học. Nếu như việc đọc nhiều cung cấp cho sinh viên vốn ngôn ngữ phong phú và khả năng diễn tả những vấn đề phức tạp và đa chiều, thì việc viết lách giúp họ áp dụng vốn từ đó để diễn đạt ý tưởng của mình một cách chính xác và thuyết phục. Tất cả các môn học đều đòi hỏi viết bài luận và báo cáo nghiên cứu dưới dạng viết hoặc thuyết trình với những đòi hỏi chi tiết về cả nội dung lẫn hình thức. Những yêu cầu này tạo cơ hội tuyệt vời cho sinh viên rèn dũa kỹ năng giao tiếp hiệu quả dưới sự hướng dẫn và phản hồi của giảng viên. Sinh viên tâm lý hiểu rằng tuân thủ quy cách trình bày là một cách thể hiện thái độ nghiêm túc và tận tâm trong chuyên môn, thay vì ỷ lại vào kiến thức của bản thân và cẩu thả trong giao tiếp. 

Kỹ năng học tập suốt đời (life-long learning skills) 
Học tập là một hành trình trọn đời. Nhà tuyển dụng tìm kiếm một nhân viên có khả năng tự học, tự trau dồi kiến thức chuyên môn thay vì một người thiếu chí tiến thủ. Tuy nhiên, kỹ năng tự học là cũng là một loại kỹ năng cần phải bỏ thời gian, tâm sức để rèn luyện chứ không phải tự dưng mà có. Lợi thế của sinh viên tâm lý học chính là ở điểm này. Các môn tâm lý học nhận thức và khoa học thần kinh cung cấp cho họ sự hiểu biết về các cơ chế vận hành và bản chất sinh học của trí nhớ, khả năng học tập, tiếp thu thông tin, khả năng tập trung chú ý và cả tính sáng tạo. Khả năng vận dụng những kiến thức này để nâng cao hiệu quả học tập của chính mình giúp cho người học tâm lý trở thành những nguồn nhân lực vô giá trong doanh nghiệp và ngoài xã hội. 

Tóm lại, nếu bạn đang băn khoăn chưa biết chọn ngành nghề nào phù hợp với sở thích và khả năng của bản thân, thì tâm lý học là một lựa chọn đáng tìm hiểu. Khi chọn học tâm lý mà chưa có định hướng nghề nghiệp rõ ràng, bạn cũng đừng quá lo lắng. Hãy chuyên tâm học hỏi với một cái tâm trong sáng, cởi mở trước những hướng đi mới lạ và kiến thức được truyền đạt, đồng thời mở rộng việc tham gia các hoạt động bên ngoài sách vở để tìm hiểu thêm những sở thích, đam mê, cũng như khả năng của bản thân. Học tâm lý ở bậc cử nhân vừa là hoạt động học tập trau dồi chuyên sâu những kiến thức thú vị và khoa học vừa là hoạt động liên tục tự tìm hiểu, định hướng, và mở những cánh cửa nghề nghiệp cho bản thân. Theo nghĩa này, tâm lý học vừa là môn học mang tính khai phóng, nhân văn, lại là môn học có tính ứng dụng cao. Cũng như bất kỳ ngành học hoặc chuyên môn nào khác, tâm lý học không phải là một ngành học dễ dàng, người học phải làm việc với thái độ nghiêm túc thì mới có thể giành được những phần thưởng xứng đáng. 

Tham khảo 
 Manpower Group (2014). The Talent Shortage Continues: How the Ever Changing Role of HR Can Bridge the Gap (PDF).
World Economics Forum (2015). New Vision for Education – Unlocking the Potential of Technology, Chapter 1: The Skill Needed in the 21st Century. 

Chủ Nhật, 24 tháng 12, 2017

Tự sự của một nhà giáo ưu tú Hoa Kỳ

Đáp đền tiếp nối: Duy trì mối quan tâm và sự tham gia của sinh viên ở giáo dục đại học 
- Stephanie E. Afful, Fontbonne University
Bài dịch từ bài gốc Tiếng Anh, "Paying it Forward: Continuing the Care and Student Engagement in College Teaching" bởi Stephanie E. Afful, trong cuốn Teaching of Psychology in Autobiography: Perspectives from Exemplary Psychology Teachers (Volume 5) (Buff, Stowell, & Buskist, 2014)

Người dịch: Phạm Thị Thủy Tiên
------
Không phải là trùng hợp ngẫu nhiên khi tôi vừa là tâm lý gia xã hội và là giáo sư đại học. Tôi đúng là một sản phẩm của môi trường xung quanh mình. Hiện tại, tôi là phó giáo sư ở Đại Học Fontbonne, một trường đại học nhỏ chuyên về các môn nghệ thuật khai phóng ở St. Louis, nơi tề tựu của khoảng 1000 sinh viên. Tôi lấy bằng đại học tâm lý học và xã hội học ở Đại Học Drury (cũng là một trường đại học tư thục khai phóng) và bằng Thạc Sĩ và Tiến Sĩ tâm lý học xã hội ở trường Đại học Saint Louis. Tôi cũng có một chứng chỉ giảng dạy sau đại học từ chương trình Kỹ Năng Giảng Dạy Bậc Đại Học từ Đại Học Saint Louis.

Năm 2011, tôi được nhận Giải Thưởng Xuất Sắc Trong Giảng Dạy Joan Goostree Stevens tại Đại Học Fontbonne và Giải Thưởng Xuất Sắc Trong Giảng Dạy Emerson. Năm 2013, tôi được trao Giải Thưởng Giảng Dạy Xuất Sắc Jane S. Halonen của Hiệp hội Giảng Dạy Tâm lý Học (STP) dành cho giảng viên mới vào nghề.

Những công việc mà tôi làm tại đại học và tại khoa cũng xoay quanh vai trò là một giáo viên, đặc biệt là việc làm chủ nhiệm Hội Đồng Tâm Lý Gia Trẻ của STP, giúp cho giảng viên đang trong 7 năm đầu của sự nghiệp tại khoa cân bằng việc giảng dạy, nghiên cứu, và các công tác khác. Tôi cũng làm việc tại ban tư vấn cho Trung Tâm Kiểu Mẫu về Dạy và Học tại trường đại học của chúng tôi.

Những dốc mốc đầu tiên trên con đường nhà giáo của tôi

Khi còn ở tuổi thanh niên, tôi ấp ủ một viễn cảnh mơ tưởng là trở thành nhà nhân loại văn hóa học và chu du khắp thế gian với kênh National Geographics. Khi tôi nhận ra sự thật là những vết cắn của bọ, cắm trại, và phải ăn những thức ăn bí hiểm hóa ra không lãng mạn như tôi từng mơ tưởng, tôi thay đổi mục tiêu của mình, và nhắm tới tâm lý học và xã hội học. Tôi ứng tuyển vào một trường đại học giáo dục khai phóng nhỏ, nơi này có rất nhiều sinh viên quốc tế và chương trình giáo dục tổng quát nhấn mạnh các môn học toàn cầu (global studies) (vì vậy gãi đúng chỗ ngứa của tôi về nhân loại học). Vào năm 18 tuổi, tôi đã không biết là tuyên bố theo ngành tâm lý học sẽ dẫn tôi đến việc lấy tiến sĩ hay là cái vị trí giáo sư mà tôi vừa đạt. Lúc ở đại học, tôi biết mình muốn đi dạy. Lúc ở bậc cao học, tôi biết mình muốn dạy môn gì. Tại Drury, tôi thích thú các lớp học nhỏ, quen với các giáo sư, và cảm giác mình là một phần của quá trình học tập. Tôi có những giáo sư tuyệt vời, họ trao trách nhiệm học tập cho tôi và chính họ cũng giữ lấy trách nhiệm ấy cho mình. Trong một lớp thống kê ở một học kỳ nọ, hẳn là tôi đã không để ý tới cái thông báo nghỉ ốm giả mạo và tôi là học sinh trong lớp đi học. Tôi nghĩ, “Ôi thích quá, không phải học” nhưng thật sự là không phải vậy. Giáo sư dạy cả bài giảng hôm ấy cho tôi và chỉ có mình tôi thôi. Buổi học tiếp theo, không được báo trước, tôi đã dạy cho các bạn bài học trước đó mà tôi được học một mình. Chính lúc đó tôi nhận ra mình muốn trở thành một giáo sư.

Trong chương trình học ở bậc cao học tại Saint Louis, chúng tôi may mắn vì không chỉ có một khóa học của khoa nhằm chuẩn bị cho chúng tôi trong việc giảng dạy mà chúng tôi còn được khuyến khích theo học một chứng chỉ về Kỹ Năng Giảng Dạy Tại Đại Học tại Trung Tâm Dạy và Học Cách Tân. Chương trình bao gồm tham gia vào các hội thảo về giảng dạy, tạo một porfolio giảng dạy, làm việc với một người huấn luyện về dạy học, nhận được các nhận xét từ đồng nghiệp và một người huấn luyện trong suốt khóa học 3 tín chỉ về Giảng Dạy môn Tâm Lý học.

Mối quan hệ với người cố vấn (mentorship) cũng là một chìa khoá mở ra các chặng đường phát triển nghề nghiệp của tôi. Chúng tôi may mắn có một hình mẫu về người giáo sư ở trường cao học khi vừa đầu tư trau dồi trong cả giảng dạy và học tập (SoTL). Jim Korn dạy chúng tôi khóa Dạy Tâm Lý học và là người rất năng nổ trong STP, ông nguyên là chủ tịch của hiệp hội. Khóa học và quá trình huấn luyện với ông ấy là dẫn nhập đầu tiên của tôi đến với những cảm thức sâu sắc về khoa học giáo dục cũng như là triển khai những công cụ học tập tích cực và sáng tạo trong lớp học. Sinh viên cao học chúng tôi khá giỏi trong việc thể hiện rành mạch những mối quan tâm nghiên cứu của mình nhưng hầu như không thạo chút nào về việc thảo ra những tiêu điểm và triết lý trong giảng dạy của chính mình. Khóa Giảng Dạy Tâm lý học được dạy vào năm hai- phần đầu của chương trình học- cũng là một yếu tố quan trọng, bởi nó giúp xác định ưu tiên trong sự nghiệp của chúng tôi: làm giáo viên.

Một khía cạnh khác của chứng chỉ cao học là được làm việc với huấn luyện viên và được giám sát trong khi giảng dạy. Huấn luyện viên cao học của tôi, Richard Harvey, vừa là cố vấn nghiên cứu và cố vấn học tập của tôi. Tôi có cảm giác nổi hết gai óc vào buổi thỉnh giảng đầu tiên (chưa nói đến việc phải tự xem chính mình qua đoạn băng video), phản hồi của sinh viên và huấn luyện viên tập trung vào việc tôi cần học để trở nên linh động hơn lúc mới bước đầu thiết kế các khóa học của mình. Thành công của tôi có được là nhờ rất nhiều vào những hỗ trợ học thuật và thực hành mà tôi có được ở trường cao học. Các giáo sư tiếp tục kèm cặp tôi trong các giai đoạn tiếp theo trong con đường sự nghiệp của tôi và đó chính là những mối quan hệ mà tôi còn tiếp tục hưởng lợi tới bây giờ.

Định hình bản thân là một giáo viên

Cũng giống như việc học cao học là một trải nghiệm bé mọn, việc giảng dạy cũng củng cố cái tính khiêm nhường ấy như thể là công việc này chẳng có gì thách thức vậy. Ngoài những buổi giảng thất bại, những người tham dự thầm lặng ở các lớp hội thảo, hoặc việc đứt quãng do yếu tố kỹ thuật, vượt qua các thách thức này trong lớp học với tôi chính là tôi đã ôm ghì lấy cái phần bé mọn của mình, để cho nó trở thành một phần không thể tách rời với tôi. Tôi đã trở nên khá nhuần nhuyễn trong việc xử lý tình huống vào những thời điểm mà lớp học không đi theo cách mà tôi dự định bằng việc khơi dậy khiếu hài hước với các sinh viên của mình, rồi cố gắng khắc phục và thử lại. Sinh viên đánh giá cao tính hài hước và sự dễ tiếp cận hơn là các quy định và tính chuyên nghiệp của khóa học (Kusto, Afful, & Mattingly, 2010).

Một thách thức khác trong việc tự định vị chính mình là một giáo viên đó là vào bước khởi đầu của quá trình nộp đơn vào các trường cao đẳng nhỏ, những nơi này yêu cầu khối lượng giảng dạy nặng nề và ít hỗ trợ nghiên cứu. Khi chuyển đổi từ trường cao học sang viện hàn lâm, tôi đã khó mà cảm thấy tự tin vào những lựa chọn của mình khi mà tôi so sánh lương của mình với lương bổng và các quỹ tài trợ phòng thí nghiệm dồi dào của các bạn đồng môn khác. Tôi đã hy sinh khả năng tiếp tục nghiên cứu ở cùng cấp độ và tần suất trong vị trí mới này. Một khi tôi thả lỏng cái tôi của mình đi (vẫn tiếp tục tập luyện lòng khiêm nhường), tôi trở nên dễ chịu hơn với nhân thân của mình, trước nhất là một giáo viên, thứ đến mới là nghiên cứu viên. Thách thức này đã cho phép tôi kiểm tra một cách khoa học những cách thức tốt nhất mà tôi có thể làm để nâng cao hiệu quả sư phạm và thúc đẩy sự phát triển nghề nghiệp của mình.

Cuộc đời đã kiểm chứng của một giáo viên

Trung tâm triết lý giảng dạy của tôi là nhóm ngọn lửa đam mê đối với môn tâm lý học vào trong lòng sinh viên của mình, triết lý này được hiện thực hóa theo nhiều cách khác nhau bao gồm các chiến lược lấy người học làm trung tâm, học chủ động, thảo luận, v.v... Nếu tôi có thể làm cho sinh viên cảm thấy hứng thú với môn thống kê – thì hẳn là tôi đẫ làm điều gì đó đúng hướng. Nếu họ cảm thấy bị lôi cuốn và nhận trách nhiệm đối với việc học tập của chính họ, khi đó sẽ dễ để mở rộng tính ứng dụng và các tài nguyên khoa học mà chúng tôi cố gắng đưa vào trong các chương trình tâm lý học ở bậc cử nhân.

Tại Fontbonne, tôi có cơ hội biến đam mê của mình trong việc dạy tâm lý học theo những cách sáng tạo thành hiện thực. Tôi thích các lớp học nhỏ và các cơ hội thảo luận các vấn đề với sinh viên. Tôi yêu thích việc trở thành phần mở đầu dẫn vào môn tâm lý học cho nhiều sinh viên cao đẳng năm nhất, để làm cho họ thực sự ngỡ ngàng về tính bát ngát của lãnh địa tâm lý học, và cũng giúp cho họ cảm nhận sâu sắc tính ứng dụng của tâm lý học trong đời sống hằng ngày của họ. Tôi thích việc dạy các khóa ở cấp độ cao hơn với các sinh viên quen thuộc và nhấm nháp cái dư vị của khoảnh khắc mà họ ứng dụng những kiến thức từ các khóa trước vào các lý thuyết và phương pháp mới.

Một lợi ích khác của việc dạy tại một đại học nhỏ là mối quan hệ tiếp diễn với sinh viên với vai trò vừa là một người hướng dẫn, vừa là người kèm cặp. Tôi nhận ra rằng một trong những yếu tố tưởng thưởng lớn nhất của việc đi dạy là khi sinh viên được nhận vào trường cao học. Đó chính là lời phản hồi sau chót nói lên tất cả. (Đặc biệt là khi họ trở thành sinh viên xuất sắc nhất trong lớp học thống kê đầu tiên ở trường cao học!) Khi họ nối gót theo tôi, tìm kiếm một sự nghiệp khoa bảng, tôi được dịp nhắc nhớ lại về cảm giác của mình khi chuyển tiếp từ cử nhân lên bậc cao học. Đó là niềm động viên củng cố xuyên suốt cho niềm tự tin về năng lực của tôi như một người giáo sư.

Tôi cũng nhận ra rằng triết lý giáo dục của tôi đã tiến hóa theo thời gian. Ban đầu, như bất kỳ nhà giáo mới bắt đầu nào, tôi cảm thấy áp lực phải dạy hết mọi thứ trong sách giáo khoa đồng thời duy trì quyền lực và kiểm soát trong lớp học. Khi mà tôi bắt đầu chuyển dần sang lối tiếp cận lấy người học làm trung tâm, tôi cảm thấy thoải mái hơn khi từ bỏ kiểm soát và cho phép sinh viên chịu trách nhiệm và có nhiều lựa chọn hơn trong giáo trình và bài tập. Weimer (2002) định nghĩa lớp học lấy người học làm trung tâm là những lớp chuyển đổi cán cân quyền lực sao cho tiêu điểm nghiên về việc học hơn là việc dạy, điều này cho phép sinh viên có được mức độ trách nhiệm và tự chủ cao hơn hầu hết các môi trường lớp học truyền thống khác. Khi sinh viên chịu trách nhiệm với việc học của chính mình, họ được kết nối, họ tham gia thực sự, và làm việc chăm chỉ hơn ngoài giờ học. Các lớp học lấy người học làm trung tâm cũng tập trung dạy ít nội dung nhưng dạy sâu hơn trong khi khuyến khích sinh viên tự chiêm nghiệm về cách học của họ (Weimer, 2002). Tùy thuộc vào khóa học, tôi thường cho sinh viên quyền chọn bài tập, quy định khóa học, và chủ đề thảo luận. Sau một chút do dự ban đầu khả dĩ, sinh viên tỏ ra thích và đánh giá cao tính tự chủ và sự tôn trọng lẫn nhau trong quá trình học tập.

Một phần trong việc triển khai một lớp học lấy người học làm trung tâm, hoặc bất kỳ chiến lược dạy học nào mới, đòi hỏi phải lượng giá. Tôi thường dạy những phần liên tiếp của các khóa học, điều này cho phép tôi áp dụng một kỹ thuật mới trong một phần còn phần thứ hai thì coi như là một nhóm đối chứng bán can thiệp. Lượng giá việc giảng dạy không chỉ là hỏi sinh viên xem họ có thích cách hoạt động của khoá học hay không.

Hơn thế, nó nên bao gồm cả việc đánh giá không chỉ những gì họ đã học mà là cách giúp họ học tốt nhất là gì. Tôi thường dùng việc đánh giá quy trình, hữu ích ở 2 chỗ: Nó thúc đẩy sinh viên chiêm nghiệm về việc học của chính họ đồng thời cho người dạy những phản hồi về sự hiệu quả của các kỹ thuật đã dùng. Một trải nghiệm bé mọn khác đối với tôi là khi phản hồi của sinh viên không giống như tôi dự đoán. Thực hành các thay đổi mới mẻ liều lĩnh trong lớp học cũng đòi hỏi chúng tôi không được gắn kết với bất kỳ chiến lược hoặc hoạt động giảng dạy cụ thể nào. Chúng tôi luôn đi tìm sự kiểm chứng khoa học của các phương pháp học tập tiến bộ trước mỗi thay đổi như thế bởi vì đôi lúc sự chớp nhoáng và tính độc đáo của một điều gì mới có thể giẫm lên tính hiệu quả đích thực của nó. 

Một công cụ hữu ích khác trong việc nâng cao năng lực sư phạm của chúng tôi là đi hỏi những phản hồi nằm ngoài những gì được yêu cầu để được vào biên chế và được thăng chức. Phản hồi từ các đồng nghiệp không nên chỉ vì bắt buộc mà nên là để mang lại những đóng góp mang tính xây dựng và phong phú. Tôi đã mời các đồng nghiệp quan sát lớp của mình khi tôi áp dụng phương pháp dạy học mới. Phản hồi này không nhất thiết được phản ánh trong hồ sơ biên chế nhưng nó cho tôi những thông tin cực kỳ hữu ích về kỹ năng đứng lớp của mình. Dunn (2013) gần đây có bài nói chuyện về các giáo viên là chuyên gia trong giảng dạy trong đó anh khảo sát các nét tính cách và thói quen của những giáo viên được trao giải thưởng giáo viên giỏi. Một điểm khiến tôi chú ý đó là các giáo viên trong mẫu của anh ấy đều tận tâm trong việc liên tục chiêm nghiệm và đánh giá phương pháp của chính họ. Lòng kiên gan bền chí của chúng tôi trong việc mài dũa kỹ năng của mình có thể gọi là một dạng siêu nhận thức (metacognition). Halonen, Dunn, McCarthy, và Baker (2012) cũng cho lời khuyên về việc làm sao để tự đánh giá tốt nhất nhờ vào đồng nghiệp, sinh viên, và tự phê bình.

Đôi dòng cuối

Dạy học là một cơ hội tuyệt vời nhất của tôi để đáp đền tiếp nối. Là một nhà tâm lý học xã hội, tôi nhận ra rằng thành công của mình là một sản phẩm của chính môi trường mà tôi đã tìm thấy chính mình – từ ngôi trường giáo dục các môn nghệ thuật khai phóng đến một chương trình cao học chú trọng vào cả chuyên môn dạy và học đến một trường đại học nơi có các đồng nghiệp hết lòng hợp tác. Khi tôi còn là một sinh viên trẻ người non dạ, người cố vấn của tôi, Vickie Luttrel, đã nói với tôi rằng “Làm giáo sư là công việc TUYỆT VỜI nhất.” Và mục tiêu của tôi kể từ đó là tích cực noi gương của những người đi trước trong việc sử dụng các phương pháp, kiến thức, và lòng tận tâm mà tôi nhận được khi còn là một sinh viên trẻ.

Thứ Hai, 18 tháng 12, 2017

Tại sao lớp học ảo có thể tốt hơn lớp thật?

Bài nguyên gốc: “Why Virtual Classes Can Be Better ThanReal Ones?” của Barbara Oakley đăng trên Nautil.us ngày 29/10/2015, 
Người dịch: Phạm Thị Thủy Tiên 
-------

Cùng với nhà khoa học thần kinh Terrence J. Sejnowski, Giáo sư Francis Crick tại Viện Nghiên Cứu Sinh Học Salk, tôi dạy một trong những khóa học trực tuyến phổ biến nhất trên thế giới (MOOCs), “Học Cách Học”, Khóa học tổng hợp kiến thức từ các lĩnh vực khoa học thần kinh, tâm lý học nhận thức, và giáo dục để giải thích cách mà não bộ hấp thụ và xử lý thông tin, từ đó giúp chúng ta học hiệu quả hơn. Kể từ ngày phát hành trên website Coursera vào tháng 8 năm 2014, xấp xỉ 1 triệu lượt học viên từ khoảng 200 quốc gia đã đăng ký học lớp của chúng tôi. Chúng tôi có học viên là nhà tim mạch học, kỹ sư, luật sư, nhà ngôn ngữ học, em nhỏ 12 tuổi, và người tị nạn chiến tranh ở Sudan. Chúng tôi nhận được những emails đại loại như một cái thư gửi gần đây nhất như vầy: “Tôi sẽ nói ngắn thôi. Tôi vừa hoàn thành khóa học MOOC của bạn mới đây thôi và nó đã thay đổi cuộc đời tôi theo những đường hướng mà bạn không thể hình dung ra đâu. Tôi vừa chạm ngõ 29 tuổi, và tôi đang trên con đường thay đổi nghề nghiệp sang khoa học máy tính, và tôi chưa bao giờ cảm thấy hào hứng trong việc học tập đến thế.”

Tất cả giáo viên trên đời đều hiểu cái cảm xúc lâng lâng khi nhận được những thông điệp như vậy. Không dừng lại ở việc làm người dạy hài lòng, dòng thư đó cũng đã nói lên ảnh hưởng của MOOCs. Chúng ta đều biết tầm quan trọng của một hệ thống giáo dục, và xã hội sẽ được thụ hưởng nhiều đến nhường nào nếu giáo dục được cải thiện, đặc biệt là những đối tượng có bất lợi trong xã hội. Các khóa học trực tuyến cho phép chúng ta mở rộng quy mô của những cơ hội giáo dục đó – một nền giáo dục với chi phí thấp. Những con số đầu tiên đã cho kết quả ấn tượng. Hơn 500 cao đẳng và đại học và 200 cơ sở và viện đào tạo cung cấp MOOCs, với tổng cộng 30 triệu lượt người dùng.

Cùng thời gian đó, khóa “Học Cách Học” đã vươn lên trở thành một trong những trải nghiệm giáo dục mà tôi hài lòng nhất trong suốt 20 năm làm nghề giáo – tôi hiện là giáo sư ngành kỹ nghệ tại đại học Oakland ở bang Michigan – tôi thú nhận là đã có lúc tôi có cảm giác phòng vệ một chút. Thành công và những tiềm năng giáo dục khủng khiếp của MOOCs đã dấy lên hồi chuông phản tỉnh mà ta thấy rõ qua các bài báo ở các tạp chí cấp cao trong vài năm trở lại đây. Trong một bài báo tên “Mắc bẫy trong lớp học ảo” đăng trên tờ New York Review of Books, David Bromwwich, giáo sư Sterling môn tiếng Anh ở Đại Học Yale, tuyên bố rằng “phong trào MOOC đi song hành với xu hướng cơ khí hóa mọi thứ” và “đẩy lùi những suy nghĩ phức tạp hơn về nội dung và những mục tiêu của nền giáo dục đúng nghĩa”. Một vài bài báo khoa học đã công bố tỉ lệ bỏ học ở MOOCs là hơn 90%. Và Robert Zemsky, Chủ tịch Hiệp hội học tập Cao học tại Trường Cao Học Giáo Dục của Đại học Pennsylvania đã viết rằng MOOCs, đứng trước khả năng bị suy thoái, “không thú vị về cả khía cạnh sư phạm cũng như kỹ thuật.”

Tôi muốn nhấn mạnh rằng những người phản đối MOOCs có rất ít kinh nghiệm trong việc tạo ra và dạy các khóa trực tuyến. Sự thật là MOOCs có thể trở nên rất hấp dẫn cả về mặt thẩm mĩ và về mặt kỹ thuật và có những ưu điểm xuất sắc về mặt sư phạm. Điều này đặc biệt đúng trong các môn thuộc lãnh địa của STEM, tức Khoa Học, Kỹ Thuật, Kỹ Nghệ, và Toán, những môn này cần giải thích nhiều khái niệm khó và đòi hỏi sinh viên phải tua lại một phần của bài giảng để hiểu cặn kẽ, hoặc đơn giản là bấm nút tạm dừng để sự thông hiểu kịp đi vào nhận thức. Về tỉ lệ bỏ học, Keith Devlin, một nhà toán học thuộc Đại Học Stanford đã chỉ ra rằng nhiều bài báo về sự tiêu hao học viên được trích dẫn rộng rãi vốn chỉ dựa vào những thước đo cổ điển của giáo dục cao học là “hoàn toàn sai lầm”. Người ta đăng ký vào MOOCs vì các lý do khác so với lý do người ta đăng ký các lớp học ở trường cao đẳng truyền thống. “Nhiều người thậm chí chưa bao giờ có ý định hoàn tất khóa học và thi cử,”, Devlin viết. Họ “đến để học. Thuần khiết và đơn giản vậy thôi.”

Ở những khoá MOOCs tốt nhất, học viên có thể tận hưởng một nền giáo dục thực sự, có thể thúc đẩy những tư duy phức tạp về các mục tiêu của giáo dục. Các khoá học trực tuyến có thể níu giữ sự tập trung của học viên, đôi khi còn tốt hơn nhiều so với giáo viên có thể làm. Tạo ra khóa “Học Cách Học” đã cho chúng tôi một cơ hội để làm một cuộc nghiên cứu “meta” về dạy và học. Terry và tôi dùng các phương tiện trực tuyến để giúp học viên vượt qua các trở ngại mà họ gặp phải khi đối diện với những phương pháp dạy học truyền thống, và cho họ những tư duy thấu đáo về bản chất của quá trình học tập.

Loài nhện Chile sống ẩn dật được cho là một trong những loài nhện hoang dã nguy hiểm nhất. Một phát cắn của nó có thể giết chết bạn. Chúng to lớn – có thể dài đến 1 inch rưỡi. Chúng cũng rất nhanh. Tưởng tượng bạn thấy một con nhện Chile ở trên sàn nhà và cách bạn 20 feet. Nhìn lại – đột ngột, nó đã ở cách bạn 2 feet rồi. Điều này sẽ thu hút sự chú ý của bạn, đúng không?

Ở đây, chúng ta đang nói đến hệ thống liên kết của các nơ rôn thần kinh đằng sau việc tại sao chuyển động - đặc biệt là loại chuyển động của một vật thể từ nhỏ đột ngột trở nên to lớn như của loài nhện kể trên - lại thu hút sự chú ý. Khi trí não ta phát giác ra một vật thể đột nhiên lù lù xuất hiện, các nơ rôn truyền tin đến cho hạch hạnh nhân của não bộ, một trung tâm vận hành của cảm xúc và động lực. Hiện tượng lớn lên đột ngột của vật thể là một sự kiện quan trọng, ta biết rằng các sinh vật từ côn trùng, bò sát, chim chóc, và cả con người đều phản ứng lại với loại chuyển động lớn lên đột ngột này (looming motion).

Não người tiến hóa với một khả năng lưu giữ sự tập trung một cách thoáng qua đối với bất kỳ điều gì. Những người luôn chỉ chăm chú nhìn vào con linh dương đầu bò mà họ đang săn đuổi sẽ có thể bị kết liễu bởi những con sư tử rập rình xung quanh. Vì vậy chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi con người không quen phải ngồi im trong một quãng thời gian quá dài, tập trung hết mức vào một người giáo viên đang giảng giải bài học. Cho dù chúng ta thích hoặc cảm thấy bài học thú vị đến đâu đi nữa thì một bài giảng trên lớp thực sự đã đi lạc điệu với cách mà não bộ chúng ta làm việc.

Có một một vấn đề trong dạy học. Nghe có vẻ kì dị khi thậm chí hỏi rằng giáo viên có giúp chúng ta học không. Trực giác của ta nói rằng hẳn là có. Và thực tế là họ có giúp ta học – những giáo viên giỏi nhất dường như có thể bước vào đầu ta để cảm nhận chính xác ra cái thứ mà ta cần để có được khoảng khắc reo lên “à há!” của bước đầu thấu hiểu. Họ có thể mê hoặc, hành hạ, và truyền cảm hứng cho ta học tốt hơn, thậm chí khi ngọn núi tri thức cao nhất mà ta cần phải leo tới để trở nên thành thạo trong môn học là cực kỳ cao. Những giải thích rõ ràng, nguồn cảm hứng, óc hài hước, sự tập trung của người thầy vào những khái niệm khó hiểu đối với từng cá nhân – tất cả những điều đó giúp chúng ta khao khát đi tiếp trong cái nhiệm vụ học tập mà đôi lúc trở nên vô vàn khó khăn.

Nhưng những nghiên cứu kiểm chứng cái điều trực giác trên đã cho thấy giáo viên thực sự không có vẻ như giúp đỡ chúng ta học tốt lắm. Một bài báo xuất bản năm 1985, tựa đề “Nền tảng kiến thức ban đầu của sinh viên cao đẳng vật lý”, bởi giáo sư vật lý Ibrahim Abou Halloun và David Hestenes, tiết lộ rằng chúng ta đưa sinh viên vật lý vào các lớp truyền thống “giảng giải với bảng đen và phấn trắng”, những sinh viên đó nâng cao mức hiểu biết về vật lý của họ hơn rất ít ỏi so với lượng kiến thức họ đã có – thậm chí khi mà người giáo viên là một người đoạt giải giáo viên giỏi.

Bài báo của Halloun và Hestenes tạo ra một cơn chấn động trong nền giáo dục các môn khoa học. Làm sao mà các phương pháp sư phạm truyền thống lại có thể tệ hại như vậy trong việc đào tạo sinh viên? Khi các nhà nghiên cứu đang vật lộn với những gợi ý, họ bắt đầu kiểm chứng các phương pháp dạy học mới và tốt hơn. Nghiên cứu mang tính cách tân của nhà vật lý học Richard Hake và cộng sự đã tiết lộ rằng sự tham gia tương tác trong lớp học, tính cả các lớp học lớn với hơn 100 sinh viên, cho thấy sự tiến bộ rõ rệt trong lượng kiến thức thu được trong một học kỳ, so sánh với các cách tiếp cận “từ trên bục giảng” truyền thống. Lưu giữ sự tập trung của sinh viên có thể được cải thiện, bằng việc cho phép họ nói chuyện và làm việc tương tác lẫn nhau.

Nhiều lớp học ở bậc cao đẳng đã chuyển sang lối tiếp cận này. Một nghiên cứu meta-analysis tiến hành bởi Scott Freeman và cộng sự tại Cuộc họp của Viện Hàn Lâm Khoa Học Quốc Gia đã cho thấy rằng học “chủ động” tạo ra một sự cải thiện trong các lớp học khoa học, kỹ nghệ, và toán đến mức mà nếu ai đó không dùng cách thức này thì gần như là một lối dạy học phản sư phạm đáng lên án. Nhưng học không phải lúc nào cũng là tương tác. Đôi lúc càng tương tác, tiến trình học tập càng trì trệ. Thường thì những người ủng hộ phương pháp học chủ động (Tôi là một trong số đó; tôi đồng tác giả một bài báo năm 2004 về đề tài này) đề xuất rằng một lối tiếp cận với việc dạy học phù hợp phải tạo ra cân bằng giữa thời gian giảng giải của người giáo viên cùng với thời lượng cho việc “chủ động” học của sinh viên,  một mặt cho phép sinh viên không gian để tự mình vật lộn với học liệu,  mặt khác thỉnh thoảng tương tác với bạn học.

Lý giải cho điều nghịch lý về giá trị của người giáo viên có lẽ nằm ở vấn đề bối cảnh của các cuộc nghiên cứu. Giáo viên phụ đạo riêng có thể giữ được sự tập trung của sinh viên một cách tự nhiên không chỉ bằng cách đưa ra chỉ dẫn rõ ràng, mà con bằng cách linh động trong giờ học, đặt câu hỏi, và cho nghỉ giải lao ngắn khi cần. Trong các lớp học bảng đen và phấn trắng quy mô lớn hơn mà Halloun và Hestenes điều tra, thậm chí các giáo viên giỏi nhất cũng không thể tránh khỏi trở nên nhàm chán bởi các giờ giảng dài vô tận và các sinh viên bị kéo rê theo một cách mệt mỏi.

Những kết quả nghiên cứu này chỉ ra rằng, dù muốn hay không, ta cũng phải thừa nhận rằng bản chất tập trung thoáng qua của não bộ của chính chúng ta bị tác động bởi những yếu tố ẩn giấu và nằm ngoài khả năng nhận thức của ta. Sự thiếu khả năng duy trì tập trung trong những quãng thời gian dài, cùng với nhu cầu của ta trong việc tự tìm hiểu các thứ và nói những điều ta tìm được với người khác, giảm khả năng của ta trong việc tận dụng hết mức người giáo viên của phương pháp dạy học truyền thống.

Với sự phát minh của Internet, một lối tiếp cận mới mẻ hơn trong dạy học là các lớp học với “một cái búng tay”. Cụ thể là, các giáo sư được ghi âm và hình ảnh vào các đoạn video để học viên có thể xem tại nhà, giúp tổng hợp và mang các ý tưởng chính trở nên sống động hơn. Các giờ học sau đó được dành cho việc trả lời câu hỏi và với các tương tác hợp tác lẫn nhau: giải quyết vấn đề, thảo luận nhóm về các vấn đề và ý tưởng, và chỉ ra những điều hiểu lầm nảy sinh trong quá trinh học một mình lúc đầu. Những kiểu tương tác cá nhân kiểu này chính là chỗ mà cả giáo viên, và các bạn học cùng đều đóng vai trò vô cùng quan trọng.

Sự phát triển của các lớp học với “một cái búng tay” đã dẫn đến sự ra đời của MOOCs như một điều tất yếu, chạm đến một ranh giới quan trọng trong ngành giáo dục.

Có lẽ tài sản lớn nhất của tôi khi tạo nên “Học Cách Học” chính là việc tôi đã từng là một sinh viên dở tệ. Tôi thi trượt suốt trong môn toán và khoa học từ tiểu học, trung học đến phổ thông. Toán bổ túc là thứ tôi chưa bao giờ đụng đến cho đến khi tôi 26, sau khi tôi không còn ở trong quân đội nữa. (Cơ hội việc làm thấp có thể là một động lực lớn cho việc thay đổi nghề nghiệp.) Tôi không thể học hiệu quả từ việc nghe giảng - ở lớp, hầu như mọi thứ đều trở nên hấp dẫn kì lạ và phân tán tư tưởng tôi, trừ ông giáo sư. Cách duy nhất mà tôi dùng để thành công đó là trở thành một kẻ ghi tốc ký tại lớp – để rồi sau đó học các ghi chép này theo tốc độ và cách thức của riêng tôi.

Khi tôi trở thành người trưởng thành và bắt đầu học toán, tôi thường giận dữ khủng khiếp bởi học liệu – thỉnh thoảng tôi cảm tưởng như là các quyển giáo trình và các ông giáo sư vào hùa nhau để trình bày vấn đề sao cho hết sức phức tạp và khó hiểu. Bất kỳ khi nào ông giáo sư kỳ cựu nào mà giải thích kiểu như “Dĩ nhiên, bằng trực giác ta thấy rõ ràng là ...” tôi đều nổi cả da gà, bởi vì tôi biết là trực giác không cho tôi thấy sự rõ ràng nào ở đây cả. Tôi không phải là người học nhanh – thường tôi mất một khoảng thời gian dài để nhìn ra là cái mà tôi đang học thực ra rất đơn giản.

Terry và tôi tạo ra “Học Cách Học” để giúp sinh viên tự nhận ra và nắm vững cái chân lý đơn giản ấy. Chúng tôi muốn kết hợp một vài điểm mạnh của việc phụ đạo trực tiếp với các bài học gần đây về nhà sản xuất trò chơi game và chương trình truyền hình. Từ tốc độ nhanh trong chương trình Grand Theft Auto đến hình ảnh tiền bay trong máy sấy trong Breaking Bad, chuyển động luôn là một khía cạnh quan trọng trong việc tiến sâu vào tiềm thức của người xem để đoạt lấy sự tập trung chú ý của họ.

Trong “Học Cách Học”, chúng tôi tận dụng tối đa các chuyển động. Dùng màn hình xanh, tôi có thể bất thình lình xuất hiện từ góc này sang góc kia của màn hình. Hoặc tôi có thể chuyển từ thế đứng nguyên người sang nhìn cận mặt. Hoặc, trong khi tôi đang cười từ một bên của màn hình, tôi có thể tăng tốc các đoạn video về con gái tôi đang vụng về de chiếc ô tô nhà khỏi đường lái và ủi vào đám cỏ  - một ví dụ sinh động của hệ quả của việc không thuần thục về quy trình. Dĩ nhiên, đây toàn là những mẹo trong sản xuất video, nhưng nó giúp níu giữ sự chú ý của học viên.

Thật ra, một trong những thủ pháp được dùng bởi nhiều nhà khoa học vĩ đại là tưởng tượng chính họ là một phần tử mà họ đang cố tìm hiểu. Einstein nổi tiếng với việc hình dung ông ấy đang đuổi theo một tia sáng để giúp ông hình thành nên thuyết tương đối. Barbara McClintock, người được trao giải Nobel, đã hình dung bà trong vương quốc của những “jumping genes”, lãnh địa mà sau đó bà tìm ra và nhờ đó mà trở nên nổi tiếng. Chúng ta có thể giúp các sinh viên của mình phát triển loại trực giác tương tự như các nhà khoa học Nobel đó bằng việc thổi hồn vào các vật thể trong các video theo cách mà dạy học truyền thống không thể nào làm được. Chúng ta có thể bước vào mitochondria của tế bào, hoặc vào vòng giao lưu của các ion tạo ra cực quang, hoặc hình xoắn ốc của phương trình Euler.

Một kỹ thuật thường được dùng trong phương pháp dạy học trực tiếp tại lớp đól à dùng slide trình chiếu của PowerPoint trong lúc giảng viên đứng kế bên. Bắt chước lối tiếp cận này trong thể thức video, chúng ta sẽ thường thấy một đầu người đang nói ở góc màn hình (mà bởi vì thiếu chuyển động, nên về cơ bản vẫn là hình tĩnh), trong khi hình ảnh chính – piccolo hay là Picasso – được phóng lớn và thảo luận ở phần còn lại của màn hình.

Nhưng cách “hai hình ảnh” này thực tế là làm tăng gánh nặng cho nhận thức của người học. Với hai hình ảnh tách biệt nhau trên màn hình, bạn sẽ phải thu nạp hai thứ cùng lúc. Tuy nhiên, kỹ thuật màn hình xanh cho phép người giao sư dường như là đang bước đi xung quanh chiếc lọ Hy Lạp cỡ lớn vi tính hóa có cùng kích cỡ với cô ấy. Trong một đoạn video về sinh học, người giáo sư có thể chỉ vào các cấu trúc có kích cỡ thực tế của tế bào. Trong kỹ nghệ, cô ấy có thể chỉ vào các bộ phận khác nhau của một máy trao đổi nhiệt. Việc kết hợp mang tính điện ảnh giữa giáo sư và đối tượng của thảo luận giảm gánh nặng nhận thức và giúp sinh viên chú ý vào các chi tiết quan trọng – thậm chí khi mà, trong đời sống, những chi tiết ấy rất nhỏ bé. Tất cả những yếu tố này có một ảnh hưởng lớn trong việc làm cho sinh viên hiểu các ý tưởng một cách dễ dàng hơn.

Các hình ảnh ẩn dụ và so sánh cũng quan trọng trong việc học tập giống như là việc giảm gánh nặng nhận thức. Một lý thuyết gọi là “sử dụng lại nơ rôn” nói rằng chúng ta dường như thường xuyên dùng cùng một mạng lưới nơ rôn để hiểu một ẩn dụ hoặc so sánh với khi ta dùng để hiểu chính khái niệm thực sự ban đầu. Khi chúng ta dùng dòng chảy của nước như một hình tượng so sánh với dòng điện, hoặc ý tưởng về một kẻ theo dõi đang tiến thật gần giúp ta hiểu khái niệm giới hạn trong tích phân, chúng ta đang sử dụng cùng mạng lưới nơ rôn chuyên trách việc thấu hiểu các khái niệm trừu tượng đó. Các giáo sư khoa học, kỹ nghệ, và toán có thể tỏ ra khinh khỉnh về việc thảy các mớ tài liệu của họ vô thành các hình ảnh so sánh ngớ ngẩn. Những công cụ sư phạm này thực sự giá trị - chúng hoạt động giống như những đoạn dường dẫn có độ dốc thoai thoải giúp cho sinh viên bước lên con tàu với những ý tưởng phức tạp một cách nhanh chóng bằng việc sử dụng các mạng lưới nơ rôn sẵn có.

Các khoá học trực tuyến tốt giúp sinh viên cảm tưởng rằng giáo sư đang nói chuyện trực tiếp với họ. Ánh nhìn thẳng vào camera của giáo viên chính là thông điệp về việc tập trung vào cá nhân của các video. Sinh viên phát triển ý thức về một sự thân thuộc; chúng tôi thường được cho là những gia sư cá nhân thân thiện. Nó làm cho chúng ta dễ tiếp cận hơn và “có thể lắng nghe được”. Nói như vậy không có nghĩa là chúng tôi thay thế giáo viên trong lớp được. Điều này có nghĩa là chúng tôi tạo ra những nguồn lực cá nhân hóa và phụ thêm, mặc dù sự thật là chúng tôi đang dạy học ở quy mô rộng lớn. Và tôi cũng nên nhắc đến là mỗi một video mà tôi giảng  trên MOOC đều là bài giảng tốt nhất về chủ đề đó mà tôi đã từng giảng trong đời mình.

Các lớp trực tuyến giúp cho việc ra câu hỏi trắc nghiệm thuận tiện hơn. Kiểm tra, hóa ra là, một trong những cách tốt nhất mà chúng ta có thể học. Kiểm tra các ý chính trong video, và hàng tá những dạng câu hỏi được biên soạn cẩn thận khác vào mỗi cuối học phần có thể giúp ích rất nhiều trong việc nâng cao khả năng hiểu bài của sinh viên. Các nhà giáo dục đôi khi viện dẫn tới các nghiên cứu về vật lý cho thấy rằng sinh viên không thực sự học từ các giải thích kỹ lưỡng – họ học từ việc làm sai. Nhưng vật lý, không giống như nhiều môn khác, có đầy rẫy những khái niệm bị hiểu sai từ trước khiến cho sinh viên bỏ qua các giải thích cũ bởi vì họ tưởng họ đã hiểu – một kiểu tư duy “lún sâu” gọi là “Einstellung”. Lỗi thường xuyên mắc phải khi gặp các câu hỏi đố trực truyến có thể thúc ép sinh viên vật lý hay bất kỳ môn nào phải ôn lại cách giải thích cho một khái niệm tưởng chừng đã nắm rõ.

Vì vậy mà các video trực tuyến cho phép sinh viên làm những gì mà não bộ tự nhiên đã chuẩn bị sẵn – đầu tiên là tập trung, sau đó là tua lại những đoạn khó, sau đó là nghỉ giải lao ngắn. Họ có thể tự kiểm tra, và tôi cũng có thể kiểm tra họ. Họ có thể ngưng video và nhìn vào khoảng không, suy nghĩ đến khi bất thần, họ hiểu ra. Họ có thể vào diễn đàn thảo luận với một bạn ở Zimbawe hay ở Chile. Hầu hết những điều này là bất khả thi trong một lớp học cổ điển kéo dài 2 tiếng. (Bạn có bao giờ thử theo dõi 10 bài tập ví dụ hoàn chỉnh của Định Lý Bayes trong 2 giờ học chưa?)

Không phải tất cả MOOCs đều tuyệt hảo. Nhưng chúng đang trở nên đa dạng hơn nhiều và cả gia tăng về chất lượng, điều mà MOOCs có thể mang lại cho sinh viên – những người đang hoặc không theo học tại đại học – là nằm ở lựa chọn. Sinh viên có thể học thử rất nhiều môn và lớp học, và nếu họ không thấy thích, họ có thể bỏ qua và đi tiếp. Và MOOCs tự thân nó không phải là câu trả lời cho một nền giáo dục hoàn thiện. Điều đó phải đến từ nhiều nguồn: MOOCs, các nguồnh học liệu từ các công ty xuất bản giáo trình, và bản thân người giáo viên. Các công cụ trực tuyến không phục vụ như một cách thay thế cho người giảng viên trực tiếp – mà là, chúng phục vụ như những nguồn cung cấp dịch vụ gia sư riêng cao cấp và là nguồn kiểm tra tuyệt vời với tốc độ chấm điểm cực kỳ nhanh.


Terry và tôi làm “Học Cách Học” với chi phí không quá 5000 đô la, và hầu hết là tại tầng hầm nhà tôi. Tôi không có kinh nghiệm chỉnh sửa film từ trước – thực ra, tôi còn không thể bấm được cái nút đóng ống kính máy ảnh. Hầu hết những hình ảnh động cho khóa học được tạo ra bằng trình chiếu PowerPoint đơn giản. Vậy nên tôi có một ý để phản biện đối với những người chỉ trích MOOC. Hãy làm một khóa học trực tuyến của riêng bạn. Quay phim lại bài giảng thú vị nhất, nhiều thông tin thấu đáo nhất mà bạn từng giảng trong đời. Nếu bạn không nghĩ bài giảng của bạn đủ tốt, hãy quay lại cho đến khi bạn hài lòng. Hãy công bố video của bạn cho hàng triệu sinh viên trên toàn cầu, không chỉ cho một vài sinh viên có đặc quyền trong lớp riêng của bạn. Hãy biên soạn bộ câu hỏi cho những khái niệm mà bạn thường thấy sinh viên mắc lỗi  trong lớp. Bạn sẽ nhận ra tiềm năng và sức mạnh to lớn mà MOOCs đem lại. Quan trọng hơn nữa, bạn sẽ tự mình trở thành một bằng chứng hoàn hảo cho tính cởi mở của một nền giáo dục lý tưởng mà ở đó sinh viên có thể tham gia học tập từ khắp mọi nơi trên thế giới.