Thứ Năm, 12 tháng 4, 2018

Phân loại nghiên cứu khoa học

CƠ BẢN VÀ ỨNG DỤNG 

Trong khi nghiên cứu cơ bản đơn thuần tập trung vào các vấn đề tạo ra tri thức về thế giới, nghiên cứu ứng dụng giải quyết các vấn đề của thực tiễn. Cả loại nghiên cứu đều cần thiết và mang tính tương hỗ lẫn nhau, có khi thuộc cùng một đề án nghiên cứu lớn về một vấn đề cấp bách đối với đời sống con người. Vài ví dụ về nghiên cứu cơ bản thú vị như dự án Bản đồ gen người - Human Genome Project hay mới đây nhất là Bản đồ mối liên kết não người - Human Connectome Project - ứng dụng các phương pháp tiên tiến như chụp hình cộng hưởng từ (fMRI), khuyếch tán cộng hưởng từ (DTI) để trích xuất hình ảnh của não bộ và các phương pháp xử lý và phân tích những dữ liệu này. Kết quả của các nghiên cứu cơ bản như kiểu này có thể được đưa vào làm nền tảng cho thần kinh học (neurology), tâm lý lâm sàng (clinical psychology), tâm thần học (psychiatry), và cả tâm lý trị liệu (psychotherapy)(*). 

Trong nghiên cứu khoa học xã hội, nhiều khi lằn ranh giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng gần như bị xóa nhòa bởi chúng được tiến hành nhịp nhàng liên tục cùng nhau, vừa để tạo ra kiến thức mới và vừa dùng kiến thức đó để giải quyết vấn đề của xã hội. Vào năm 1946, thế giới phương Tây bắt đầu xây dựng cuộc sống sau những tổn thất trong cuộc chiến tranh thế giới. Những người lính châu Âu chết trận hoặc mắc chứng tâm thần (**), những gia đình nghèo khổ với trợ cấp không thấm thía vào đâu với chi phí và những yêu cầu an toàn y tế tối thiểu. Trong bối cảnh đó, ở nước Anh, có một vị bác sĩ đã thầm lặng khởi đầu một dự án nghiên cứu theo dòng đời (longitudinal study) mà sau này đã trở thành ‘viên ngọc sáng’ của giới nghiên cứu trên toàn thế giới, là minh chứng hùng hồn cho nhân loại về những điều kì diệu mà ngành khoa học xã hội có thể làm để nâng cao chất lượng cuộc sống của con người một cách toàn diện ở quy mô một quốc gia và thậm chí còn xa hơn. Dự án nghiên cứu này được tác giả Helen viết trong quyển “Dự Án Cuộc Đời”, dưới đây là một đoạn trích đăng trên tờ The Guardian: 

     "Tháng 3 năm 1946, các nhà khoa học ghi chép lại sự ra đời của hầu như mỗi em bé ở Anh trong một tuần giá lạnh. Họ đã theo dõi hàng ngàn em này kể từ đó, trong một cuộc nghiên cứu dài hơi lớn nhất về phát triển con người trên thế giới. Những người này sẽ bước sang tuổi bảy mươi trong vòng hai tuần tới, họ là những công dân được nghiên cứu kỹ nhất trên hành tinh. Và những phân tích về họ đã thành công đến mức các nhà nghiên cứu đã lặp lại kỹ thuật trên với hàng ngàn em bé khác sinh ra vào các thời điểm 1958, 1970, những năm đầu 90 và vào năm đầu thiên niên kỉ mới. Tổng cộng có đến hơn 70 ngàn người thuộc 5 thế hệ đã được ghi danh vào các nghiên cứu đoàn hệ sau sinh này. Không có bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đang theo dõi các thế hệ dân chúng của họ theo cách này: cuộc nghiên cứu đã trở thành cái mà các nhà khoa học trên khắp thế giới đều thèm muốn, một viên ngọc ngự trên chiếc vương miện của nền khoa học Anh Quốc, vậy mà, bên ngoài mạng lưới các nhà khoa học tận tuỵ đang vận hành cuộc nghiên cứu này, một số cực kỳ ít ỏi người biết về sự tồn tại của chúng.
- The Guardian, 27 tháng 2, năm 2016
Nghiên cứu này đã thay đổi những nhận thức thông thường sai lầm của thời bấy giờ. Trước nghiên cứu, người ta đã không biết (hoặc không quá quan tâm rằng) người mẹ có thai không được hút thuốc lá cho đến những chuyện như bất công xã hội có thể khiến cho giáo dục phổ thông không phát huy được tác dụng. Tất cả những phát hiện này đã đóng góp to lớn trong việc làm thay đổi các chính sách y tế, giáo dục, và xã hội quan trọng ở Anh từ đó đến tận ngày nay. 

ĐỊNH TÍNH VÀ ĐỊNH LƯỢNG 
Nguồn: Internet
Trong những bài trước và tất cả các bài viết trong loạt này tôi sẽ viết về phương pháp định lượng. Tuy nhiên, không nên hiểu lầm rằng chỉ có phương pháp định lượng mới là phương pháp khoa học đúng đắn và là duy nhất trong nghiên cứu tâm lý học. Bài viết này sẽ giới thiệu sơ lược và so sánh phương pháp định tính với định lượng để cho bạn đọc có một bức tranh lớn khi chọn phương pháp nghiên cứu cho vấn đề mà mình quan tâm. Điểm chung của hai cách tiếp cận định lượng và định tính trong nghiên cứu khoa học là chúng đều là hệ thống các phương pháp chặt chẽ, phức tạp, và tuân thủ các nguyên tắc của phương pháp khoa học. Về điểm khác, có ba sự khác biệt cơ bản như sau. 

Mục đích nghiên cứu và kế hoạch phân tích dữ liệu  

Ta có thể chia phương pháp nghiên cứu khoa học thành hai loại dựa vào mục đích nghiên cứu và theo đó là cách mà ta định sẽ phân tích dữ liệu mà ta thu được. Phân tích dữ liệu bằng cách định lượng nghĩa là thu thập dữ liệu dưới dạng các biến số phản ánh các khái niệm hoặc hiện tượng tâm lý học đã được thao tác hóa (***) rồi dùng các phép thống kê mô tả và suy luận để đi kiểm định giả thuyết về tần suất hoặc mối quan hệ giữa các hiện tượng đó. Trong khi đó, phân tích dữ liệu bằng cách định tính là khi nhà nghiên cứu thu thập dữ liệu rồi ’tóm tắt’ hay là 'mã hóa' chúng không phải bằng các biến số định lượng mà bằng các chủ đề (theme) và chủ đề nhỏ (sub-theme) liên quan tới vấn đề hoặc câu hỏi nghiên cứu. Nếu như mục đích của nghiên cứu định lượng là thu thập dữ liệu định lượng, thường gọi là phương pháp thực nghiệm (empirical methods) để kiểm định giả thuyết, thì nghiên cứu định tính dùng các phương pháp mang tính diễn giải (interpretative) như nghiên cứu trường hợp (case study), phỏng vấn nhóm (focus group), quan sát tham dự (participatory observation), phỏng vấn phi cấu trúc (non-structured interview), hoặc nghiên cứu lí thuyết (literature review), v.v… để khám phá hoặc đặt ra những giả thuyết mới về vấn đề nghiên cứu. Liên hệ lại với bài trước, bạn đọc sẽ thấy nghiên cứu định tính khớp vào giai đoạn thứ 2 - quy nạp, còn nghiên cứu định lượng nằm ở giai đoạn thứ 3 - diễn dịch, của chu kỳ thực nghiệm. Như vậy, dù phân loại theo cách nào thì những nghiên cứu khoa học vẫn luôn mang tính tương hỗ, kế thừa lẫn nhau, không có cái nào ưu việt hơn cái nào mà phải được vận dụng luân phiên, nhuần nhuyễn. Nhà khoa học ‘tháp ngà’ tự cho nghiên cứu của mình ở một đẳng cấp khác và tách mình khỏi xã hội, hay nhà nghiên cứu tự cho mình là ‘khoa học’ hơn khi chỉ sử dụng thực nghiệm và coi thường tất cả những nhà nghiên cứu định tính dần sẽ phải có tư tưởng chiết trung hơn, nếu không muốn chính mình sẽ hóa rêu phong và trở thành tảng đá vô hình trong dòng chảy tự nhiên của xã hội. 

Câu hỏi nghiên cứu 

Nghiên cứu định tính trả lời câu hỏi tại sao hoặc như thế nào, trong khi đó nghiên cứu định lượng trả lời các câu hỏi như ai, cái gì, và bao nhiêu. Giả sử, vấn đề nghiên cứu của bạn là tác động của thuốc chuyển đổi hóc môn trên người chuyển giới từ nam sang nữ. Phương pháp định lượng có thể trả lời cho bạn các câu hỏi như: Thuốc có tác dụng chuyển biến không? Trong bao lâu? v.v…  Phương pháp định tính sẽ có ích nếu câu hỏi nghiên cứu của bạn không phải là các yếu tố trên mà là những điều thực sự xảy ra bên trong người chuyển giới về mặt tâm lý( họ cảm thấy như thế nào khi dùng thuốc?), về mặt thể chất (những cơn đau diễn ra như thế nào, có những tác dụng phụ nào khác mà bản thân nhà nghiên cứu không trù tính trước và không có trên phiếu đánh giá không?) và những diễn biến khác trong cảm xúc và suy nghĩ của người chuyển giới về việc dùng thuốc.

Tính khái quát hóa 

Với mỗi nhóm hoặc người tham gia, nghiên cứu định tính thu thập rất nhiều thông tin không cấu trúc cho nên dữ liệu của từng người rất đồ sộ và khối lượng công việc là vô cùng nhiều. Vì vậy, nghiên cứu định tính thường được tiến hành trên một cỡ mẫu hạn chế từ 01 đến không quá 10 người tham gia để đảm bảo tính khả thi của nghiên cứu. Bởi độ mở về dữ kiện thu thập và cỡ mẫu nhỏ, nghiên cứu định tính không có tính khái quát hóa, tức là kết quả của nghiên cứu không thể được suy luận ra cho những người khác trong quần thể nghiên cứu. Vai trò của nghiên cứu định tính giống như là người đi mở đường, khai phá các hướng nghĩ mới, giả thuyết mới, để rồi nghiên cứu định lượng đi tiếp theo sau để kiểm định giả thuyết đó và kiểm chứng khả năng khái quát hóa (generalizability) của nó, và cuối cùng là ứng dụng vào thực tiễn. 

Một ví dụ về một nhà nghiên cứu dùng phương pháp định tính nổi bật là trong lĩnh vực xã hội học. Cô Kimberley Hoàng, hiện là phó GS ở ĐH Chicago, đã từng thực hiện một nghiên cứu về thị trường lao động tình dục ở Việt Nam bằng phương pháp dân tộc ký (ethnography) và được trao giải thưởng luận văn tiến sĩ ngành xã hội học xuất sắc nhất của năm ở Mỹ năm 2012. Nếu bạn quan tâm đến phương pháp định tính thì không nên bỏ qua bài nghiên cứu này, có bản free đầy đủ trên bạn, chỉ cần tải về đọc thôi. Bạn đọc nếu biết cách đọc kỹ một nghiên cứu như vậy thiết nghĩ có thể học hỏi được rất nhiều về phương pháp nghiên cứu định tính theo cách mà không một khóa học nào có thể chỉ dạy cho bạn được. Level của bạn sẽ lên rất nhanh nếu biết cách học từ sách và bài báo nghiên cứu - những nguồn có thể không rẻ chút nào nhưng nếu tìm thì vẫn có cách. 

Tóm lại, tùy theo mục đích của bạn là đặt giả thuyết mới hay kiểm định giả thuyết mà bạn chọn định tính hay định lượng. Sự khác biệt giữa hai cách tiếp cận này thể hiện rõ nhất qua cách bạn phân tích dữ liệu. Mấu chốt để chọn định tính hay định lượng còn nằm ở chỗ, vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu cụ thể của bạn là gì? và khả năng khái quát hóa có phải là điều bạn quan tâm hiện tại không, so với các ưu tiên khác? Không nên chọn phương pháp nghiên cứu định tính chỉ vì bạn ghét xác suất thống kê hoặc ngược lại, không nên chọn phương pháp đinh lượng chỉ vì bạn ngại giao tiếp hoặc ngán ngẩm việc tỉ mỉ, cặm cụi ghi chép từng lời chia sẻ của người tham gia qua băng thu âm (transcribe). Sợi chỉ đỏ duy nhất dẫn dắt tất cả các quyết định trong suốt quá trình nghiên cứu của bạn không gì khác hơn và chỉ nên là mục tiêu nghiên cứu của chính bạn. 

-----

Tham khảo
Breakwell, Hammond, Fife-Schaw, & Smith (2006). Research Methods in Psychology. London: Sage. 

(*) Lúc học ở Anh thì tôi lần đầu được biết về cách ứng dụng công nghệ sóng điện từ ‘Transcranial Magnetic Stimulation’ (TMS) trong chữa bệnh trầm cảm và lo âu. Sau đó lúc vừa về Việt Nam thì được biết thêm về Neurofeedback, ứng dụng EEG trong chữa trị tăng động giảm chú ý và tự kỉ. Rất thú vị! 
 (**) Thực ra những người lính trở về và mắc chứng tâm thần ở Châu Âu được mô tả qua nhân vật Septimus trong tác phẩm Bà Dalloway của Virginia Woolf là sau thế chiến thứ nhất. Còn ở thế chiến thứ 2 thì tôi biết khi đọc về bối cảnh lịch sử tâm lý Mỹ sau thế chiến thứ 2, đó là việc đầu tư nguồn lực của chính phủ vào tâm lý học lâm sàng (clinical psychology) (một điều làm đau lòng các nhà tâm lý học nghiên cứu bởi ngân sách cho nghiên cứu và chế độ cho giáo sư/ cán bộ nghiên cứu bị cắt xén bớt). Tóm lại, việc sang chấn sau chiến tranh có lẽ là hiện tượng phổ biến ở các quân nhân tham chiến bởi tính khốc liệt và bạo tàn của chiến tranh.
(***) Thao tác hóa khái niệm (definition operationalization) là các quy trình hoặc bước tiến hành để đo lường một khái niệm trừu tượng thông qua các thuộc tính có thể quan sát và đo lường được. Khái niệm này sẽ được trình bày kỹ trong bài viết tới.

Thứ Ba, 3 tháng 4, 2018

Chu kỳ thực nghiệm trong khoa học

Phát biểu khoa học (scientific claims) 

Trong khoa học có một số thuật ngữ phổ biến, gọi chung là các phát biểu khoa học (scientific claims). Các phát biểu khoa học có thể đơn thuần mô tả hoặc giải thích các hiện tượng ở các cấp độ khác nhau. Một số phát biểu có độ tin cậy và chính xác cao hơn một số phát biểu khác, tùy thuộc vào khả năng giải thích của nó và các bằng chứng khoa học đi kèm. 

Phát biểu ở cấp độ cơ bản nhất của khoa học là quan sát (observation). Quan sát có thể có hệ thống hoặc không có hệ thống, chính xác hoặc không chính xác. Quan sát thường được cho là cơ bản, không có nhiều thông tin và không thú vị bởi vì nó không đưa ra giải thích nào về hiện tượng quan sát được. Dù vậy, quan sát đóng vai trò vô cùng quan trọng bởi vì nó là những viên gạch nền của các phát biểu của khoa học thực nghiệm (empirical scientific claims). Bạn có nhớ một trong những nguyên tắc cơ bản của phương pháp khoa học là tính thực chứng (empiricism) không? (xem lại bài trước ở đây). Từng quan sát riêng lẻ có thể không có ý nghĩa, nhưng khi quan sát được tiến hành một cách có hệ thống thì có thể đem lại những phát biểu khoa học mới, có tiềm năng nghiên cứu. Đến cuối bài viết này, bạn cũng sẽ nhận ra thêm một vai trò của quan sát nữa là, từng quan sát riêng biệt là hết sức cần thiết trong việc ủng hộ hay phản bác lại một giả thuyết.   

Một giải thích là một tuyên bố về mối quan hệ nhân quả (causality) hoặc  mối liên quan (association). Phát biểu giải thích (explanation) sẽ mô tả về mối quan hệ giữa các sự kiện vật chất. Một giải thích như vậy có thể là một giả thuyết (hypothesis) hoặc một quy luật (law). Giả thuyết là một tuyên bố khoa học, mô tả hoặc giải thích về một quy luật hoặc mối liên hệ giữa các sự kiện. Tính đúng đắn của một giả thuyết phụ thuộc vào số lượng bằng chứng ủng hộ qua các nghiên cứu thực nghiệm (empirical studies). Một giả thuyết mạnh là một giả thuyết liên tục được củng cố (repeatedly supported) sau nhiều nghiên cứu thực nghiệm. Một giả thuyết yếu thường là giả thuyết mới đề ra và chưa hoặc không có nhiều nghiên cứu đi kiểm chứng, hoặc khi các nghiên cứu cho ra những kết quả khác nhau (khi ủng hộ, khi bác bỏ). 

Quy luật (law) là một dạng đặc biệt của giả thuyết. Quy luật có tính chính xác và thường được thể hiện ở dạng phương trình toán học. Và để đạt được tính chính xác đó, quy luật thường được giải thích với độ chuẩn xác cao bằng cả lập luận logic ở bậc cao và hàm súc nhất (toán học) và bằng phương pháp thực nghiệm (quan sát có hệ thống). Trong các ngành khoa học xã hội chẳng hạn như tâm lý học, rất khó để hình thành các quy luật kiểu này, ít nhất là cho đến hiện tại. 

Lý thuyết (theory) là một quy tắc rộng, có thể áp dụng để giải thích được nhiều hiện tượng có liên quan. Lý thuyết được xây dựng từ các nền móng cơ bản là những giả thuyết vững chắc được ủng hộ liên tục và lặp lại bởi nhiều bằng chứng thực nghiệm. Các lý thuyết lớn mà chúng ta biết được như thuyết nhật tâm của Galileo, thuyết tương đối của Einstein đều đã trải qua rất nhiều quan sát và thách thức của khoa học trước khi trở thành những lý thuyết nền tảng mà con người dùng để giải thích các hiện tượng vật chất xung quanh mình. Nếu bạn quan tâm đến các lý thuyết lớn về vạn vật, thì bạn có thể đọc quyển sách ngắn ‘Bầu trời chiều ẩn giấu’ của nhà văn Nguyễn Phương Văn, trong đó bạn sẽ có dịp làm quen với các đỉnh cao trí tuệ cổ xưa như Galileo, Kepler cho đến tỉ phú 'trí tuệ nhân tạo' của thời hiện đại - Elon Musk. 

Một lý thuyết dù lớn và vững chắc đến đâu, vẫn có khả năng bị bác bỏ hoặc điều chỉnh khi một bằng chứng trái chiều được tìm ra. Đúng là không có gì quý báu và khó kiếm tìm như sự thật. Chính vì vậy, khoa học là một chuỗi những cuộc truy tìm sự thật không ngừng nghỉ, tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác. Bởi sứ mệnh tìm kiếm tri thức của mình mà khoa học nhìn bề ngoài có lúc vinh quang, xán lạn lắm thay nhưng những ai làm khoa học chân chính sẽ hiểu, khoa học thực chất là trải nghiệm khiêm tốn, nhọc nhằn của người đi tìm tri thức trước sự bao la bất tận và khó nắm bắt của sự thật. 

Trước khi nói về chu kỳ thực nghiệm, ta hãy nói sơ về hai khái niệm kinh điển và quen thuộc của phương pháp luận, đó là quy nạp và diễn dịch. 

Diễn dịch 
Phương pháp diễn dịch là suy luận từ quy luật tổng quát để trả lời câu hỏi về trường hợp cụ thể. Nói cách khác, diễn dịch bắt đầu bằng một mệnh đề tổng quát và kết thúc bằng một trường hợp cụ thể. Vì (ở Châu Âu) ta biết rằng những con thiên nga trên đời đều màu trắng, ta kỳ vọng rằng con thiên nga bất kỳ nào mà ta sẽ gặp cũng có bộ lông màu trắng, ngay cả khi ta đến Châu Úc hay Châu Phi. 

Quy nạp 
Ngược lại, một cách thức mà ta thường dùng để tìm hiểu về thế giới khách quan là thông qua quan sát những trường hợp cụ thể để suy đoán về quy luật tổng quát về sự vật hiện tượng, phương pháp như vậy gọi là quy nạp. Francis Bacon, một triết gia người Anh vào thế kỷ 16 được biết đến như là cha đẻ của phương pháp khoa học thực chứng (father of scientific methods by empiricism) có lẽ vì ông là người đã có ảnh hưởng lớn đến nhiều nhà khoa học sau đó bởi sự quyết liệt của ông đối với phương pháp quan sát và suy luận bằng quy nạp.

Tuy nhiên, vấn đề của quy nạp là những quy luật tổng quát được suy luận từ quan sát riêng lẻ thì không có cách nào kiểm chứng được. Nhiều quan sát liên tục trong quá khứ cho thấy thiên nga có lông màu trắng. Nhưng làm sao từ những điều đã biết mà ta có thể đoán biết tương lai một cách chắc chắn, rằng những con thiên nga mà ta sẽ gặp tiếp theo cũng có màu trắng? Sự thực thì ai cũng biết là đến khi người ta tìm ra Châu Úc thì họ cũng phát hiện ra là ở đó có những con thiên nga có bộ lông đen nhánh. David Hume - triết gia người Scotland ở thế kỷ 18, đã chỉ ra rằng dù ta quan sát một hiện tượng lặp đi lặp lại nhiều bao nhiêu lần đi nữa, ta vẫn không bao giờ kiểm chứng được một cách chắc chắn các kết luận suy ra bằng cách quy nạp (the problem of induction). Hai thế kỉ sau đó, với những ưu tư giống như Hume, Karl Popper đưa ra khái niệm - “phản nghiệm” (falsification) để khắc phục nhược điểm của việc chứng minh một mệnh đề là đúng bằng cách kiểm chứng (verification). Nếu bạn quên thế nào là quy tắc phản nghiệm trong nghiên cứu khoa học, hãy xem lại bài viết về các nguyên tắc trong phương pháp khoa học ở đây. (Nếu đọc rồi mà vẫn chưa thỏa mãn trí tò mò thì mong bạn ráng chờ thêm vài bữa nữa, ta sẽ bàn kỹ về Karl Popper và falsification trong bài về phân tích dữ liệu. Hy vọng là khi ấy bạn sẽ thấy phản nghiệm của Popper hiện lên thật sáng tỏ và đẹp đẽ không thua gì bầu trời đêm trăng mười sáu.) 

Phương pháp diễn dịch - giả thuyết 
Khoa học hiện đại kết hợp quy nạp và diễn dịch để đi tìm sự thật về thế giới quan. Sự kết hợp này được thể hiện trọn vẹn và rõ ràng nhất qua phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng trong cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội hiện đại, gọi là phương pháp diễn dịch - giả thuyết (hypothetico- deductive method). 

Chu kỳ thực nghiệm (empirical cycle) 

Chu kỳ thực nghiệm minh họa cho phương pháp diễn dịch- giả thuyết trong nghiên cứu khoa học. Một chu kỳ thực nghiệm có 5 giai đoạn chính, đó là: quan sát (observation), quy nạp, diễn dịch, kiểm chứng, và đánh giá. Khi làm nghiên cứu khoa học, sẽ rất hữu ích nếu bạn mường tượng bức tranh tổng quát này trong đầu và nhất là trước khi bạn bị xoáy vào các chi tiết cụ thể khác như thiết kế nghiên cứu, chọn mẫu hay là kế hoạch phân tích dữ liệu. Bạn cũng sẽ dần hiểu rõ bản chất của một số khái niệm nền tảng của phương pháp định lượng cũng như sự khác biệt cơ bản giữa định lượng và định tính. 

Trước hết, nhà khoa học để ý, quan tâm hoặc yêu thích một hiện tượng sẽ chủ động quan sát, theo dõi hiện tượng đó. Sau nhiều quan sát liên tục và lặp lại, bạn bắt đầu rút ra một số kết luận ban đầu hay là một giả thuyết mới, đó là giai đoạn quy nạp. Quy nạp là lối suy luận cốt lõi của phương pháp định tính (qualitative methods), nghiên về tìm kiếm, khai phá vấn đề, sự vật mới, đặt ra những giả thuyết mới về thế giới khách quan. Chẳng hạn, tôi liên tục quan sát thấy những người học tâm lý học thì hay ăn nhiều. Tôi quan sát điều này từ bản thân, từ những người bạn đồng môn, đồng nghiệp, vâng vâng… Tôi cảm thấy điều này là có thể là một quy luật thú vị (an interesting pattern), và tôi dùng quy nạp để đặt ra một giả thuyết là những người học tâm lý thì ăn nhiều hơn người khác. Nhưng giả thuyết này của tôi chưa đủ mạnh chừng nào tôi còn chưa kiểm chứng nó bằng thực nghiệm. Như bạn đã biết, quy nạp có thể mắc sai lầm, bởi luôn có khả năng là lần tới ta sẽ gặp một người ngành tâm lý luôn ăn uống điều độ. 

Để kiểm chứng giả thuyết đề ra, bạn áp dụng suy luận diễn dịch bằng cách đặt giả thuyết dưới dạng một giả thuyết- diễn dịch. Ví dụ: 

Giả thuyết ban đầu: Những người học tâm lý thì ăn nhiều hơn người khác.
Viết lại dưới dạng giả thuyết- diễn dịch: (Ta giả thuyết rằng) nếu việc người học tâm lý thì ăn nhiều hơn người khác là đúng, thì trong 50 người học tâm lý mà tôi sắp quan sát tới đây (chọn ngẫu nhiên bất kỳ), điều này cũng đúng. (Nghĩa là 50 người này ai cũng ăn nhiều.) 

Kiểm chứng (testing) là khi bạn dùng kiểm định thống kê (statistical test) để kiểm chứng giả thuyết diễn dịch ở trên. Có hai loại thống kê là thống kê mô tả và thống kê suy luận. Thống kê mô tả (descriptive statistics) mô tả, trình bày dữ liệu thô dưới dạng đẹp mắt, gọn gàng và dễ đọc hơn. Số trung bình, độ lệch chuẩn, hoặc biểu đồ các loại là những sản phẩm đầu ra của thống kê mô tả. Ví dụ, thay vì bạn phải đọc một bảng số liệu gồm số lượng thức ăn tiêu thụ của 50 người học tâm lý trong một tháng và so sánh nó với lượng thức ăn tiêu thụ của 50 người học ngành khác thì bạn chỉ cần dùng phần mềm thống kê để tính toán ra lượng thức ăn trung bình của mỗi nhóm rồi so sánh hai con số này với nhau. Sau khi có kết quả thống kê mô tả, bạn dùng thống kê suy luận (inferential statistics) để suy luận kết quả tìm được cho quần thể quan tâm. Ví dụ, nghiên cứu hiện tại của bạn cho kết quả rằng người học tâm lý ăn nhiều hơn người khác. Nhưng để kết quả này có thể khái quát hóa cho tất cả người học tâm lý trên thế giới này thì bạn phải dùng các bài kiểm định phù hợp của thống kê suy luận. 

Đánh giá (evaluation) là kết luận về giả thuyết dựa trên kết quả kiểm định thống kê. Nếu kết quả kiểm định ủng hộ giả thuyết thì ta nói rằng giả thuyết được tạm thời chấp nhận (provisionally accepted). Nếu kết quả kiểm định không ủng hộ giả thuyết thì ta nói rằng giả thuyết bị bác bỏ (rejected) hoặc cần điều chỉnh (adjusted) (theo Karl Popper). Cũng có khi, thay vì điều chỉnh giả thuyết chính, ta sẽ điều chỉnh giả định nền tảng (background assumptions) (theo Duhem - Quine thesis). Giả định là những tiền đề mà ta công nhận là đúng và dùng làm nền tảng của giả thuyết mà ta cần đi tìm bằng chứng ủng hộ. Thông thường, giả thuyết chính rất ít khi bị bác bỏ hoàn toàn mà thường được điều chỉnh hoặc là điều chỉnh giả định nền. Việc điều chỉnh giả định cùng với vấn đề giả thuyết post-hoc (tức là điều chỉnh lại giả thuyết sau khi có kết quả kiểm định) nêu ra trong định đề Duhem - Quine cũng là một luận điểm phổ biến được các nhà khoa học tự nhiên ‘cực đoan’ dùng để công kích tính khoa học của các ngành khoa học xã hội như tâm lý học. Chu kỳ thực nghiệm lại bắt đầu khi mà một giả thuyết sau khi được đánh giá (bác bỏ hay ủng hộ) được dùng làm căn cứ để bắt đầu cho những nghiên cứu tiếp theo nhằm củng cố giả thuyết đó hoặc kiểm chứng những giả thuyết được điều chỉnh. Như vậy, khoa học tiếp diễn trong một chu trình khép kín và không có điểm dừng. Chúng ta không bao giờ hoàn toàn 'chứng minh' một giả thuyết mà chỉ tạm thời chấp nhận (provisionally accept) dựa vào những gì ta đã tìm thấy. Sự thật có thể tồn tại, nhưng với khoa học, chúng dường như mãi mãi chỉ mang tính tương đối. 

Chuyển dịch hệ thuyết (paradigm shift) 

Nhà khoa học lỗi lạc của thế kỷ 20 - Thomas Kuhn, đã chỉ ra rằng, khoa học, cũng như nhiều thứ khác, không phát triển theo một trật tự tuyến tính mà nó sẽ có những khúc cua khó tránh khỏi. Khoa học được tiến hành dựa trên nhiều giả thuyết và quy luật hiện thời có được. Nhưng khi có những sóng gió xảy ra, ví như là có những phát hiện mới bác bỏ hoặc trái ngược với lý thuyết hiện có, ấy là lúc ta phải thay đổi cách mà khoa học vận hành. Sự thay đổi này không dừng lại ở thay đổi giả thuyết (Karl Popper) hay thay đổi giả định ban đầu (Duhem-Quine) mà là thay đổi cả một hệ thuyết (paradigm shift). Có lẽ, nếu con người còn sống trên hành tinh này hơn 100 năm nữa mà không bị diệt vong như Hawking tiên đoán, chúng ta hoặc những thế hệ tiếp theo sẽ chứng kiến một cuộc chuyển dịch hệ thuyết (a paradigm shift) - một cuộc cách mạng phương pháp khoa học trong tâm lý. Cuộc cách mạng ấy sẽ lý giải tất cả những điều mà khoa học tâm lý chưa giải đáp thỏa đáng về con người và hành vi của họ như ta thấy bây giờ, khi ấy hy vọng rằng ngành tâm lý học sẽ thôi bị thách thức một cách bất công bởi các nhà khoa học (luôn tự cho mình là) ‘chính danh’ hơn. 

Tham khảo: 
  1. Breakwell, Hammond, Fife-Schaw, & Smith (2006). Research Methods in Psychology. London: Sage. (Chương 1)
  2. University of Amsterdam. Coursera: Quantitative Research Methods. goo.gl/v6ACGi
  3. Karl Popper, Science as Falsification. http://www.denisdutton.com/popper.htm 

Thứ Hai, 5 tháng 3, 2018

Một số khái niệm phương pháp luận



VỀ VIỆC DẠY VÀ HỌC PHƯƠNG PHÁP LUẬN

Các học phần về phương pháp nghiên cứu ở Việt Nam luôn được đặt một cái tên rất dài và gây hoang mang: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học trong ABC. ABC có thể là Tâm lý học, Kinh tế học, Xã hội học, v.v... Còn ở Anh thì khác, hoặc ít nhất là ở trường tôi. Mặc dù là một chương trình học nặng tính nghiên cứu hàn lâm, lớp thạc sĩ của tôi hoặc rộng hơn là cả khoa tâm lý học ở đại học Surrey không hề có một môn học nào tên như vậy. Nguyên nhân là vì môn phương pháp được lồng vào từng học phần lẻ.

Ví dụ, bạn sẽ được học phương pháp nghiên cứu của tâm lý học phát triển, tâm lý học nhận thức, lịch sử tâm lý học, tâm lý học sinh học (hay khoa học thần kinh) thông qua một bài tập mà bạn sẽ phải tự làm nghiên cứu với những quy trình y như một nghiên cứu thật. Chỉ khác là nó là nghiên cứu thu nhỏ và giảng viên sẽ cung cấp sẵn cho bạn số liệu, hoặc có khi là các gợi ý về câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết thống kê và cách chọn kiểm định phù hợp thông qua các buổi tutorials. Như vậy, bạn không có cảm giác bị ‘nhồi sọ’ lý thuyết từ muôn chục kiếp trước mà sẽ được tự mình trải nghiệm những phương pháp rất cụ thể của một nhánh tâm lý học nhất định.

Một ưu điểm của thiết kế môn học kiểu này nữa là nó giúp sinh viên tránh được cảm giác trừu tượng thường gặp khi phải học ‘chay’ môn phương pháp. Từng môn học vì vậy trở nên vô cùng thú vị. Nhờ kiểu học này mà tôi đọc cả trăm nghiên cứu khoa học, đó là còn chưa kể những bài phục vụ cho luận văn - không phải đọc lướt nắm ý không thôi (superficial level) mà là đọc phân tích (analytical level), phân tích phương pháp và cách lập luận của từng bài, vì vậy mà tôi luôn có những ví dụ thực tế lấy từ nghiên cứu của chính mình hoặc từ nghiên cứu của người khác để minh họa cho bài học. Mặc dù bạn sẽ không được học nguyên một quy trình nghiên cứu từ lúc phê bình tài liệu đến lúc bàn luận kết quả một cách hệ thống, nhưng bạn học được rất nhiều bằng cách tự mày mò, tự đọc nghiên cứu, và tự quyết định và chịu trách nhiệm giải trình về chúng. Quá trình này cho bạn kiến thức trong vế thứ hai của tên môn học tại các trường Đại Học Việt Nam - Phương pháp nghiên cứu khoa học.

Nhưng còn vế thứ nhất - Phương pháp luận, thì sao? Câu trả lời là: tự đọc trong sách. Ở thư viện trường tôi có rất nhiều sách phương pháp luận nhập môn cho sinh viên tâm lý nhưng tôi đã sơ suất không mua về cuốn nào để bây giờ dùng làm sách tham khảo cho việc dạy học. Các sách triết khác hoặc các tài liệu về triết học trên mạng như bách khoa toàn thư triết học của Stanford mặc dù đã khá cô đọng nhưng vẫn rất hàn lâm. Hàn lâm của các môn khác đã đủ mệt, huống chi lại là hàn lâm kiểu …triết. Cho nên bài viết này ra đời với mong muốn hệ thống hóa một số khái niệm cơ bản trong phương pháp luận. Bạn đọc có thể dùng các từ khóa (từ in nghiêng, tiếng Anh, trong ngoặc) để tra cứu thêm nếu muốn.

TẠI SAO NÊN ĐỌC VỀ BẢN THỂ LUẬN VÀ NHẬN THỨC LUẬN?

Khi viết bài này tôi tình cờ đọc một bài viết của một nghiên cứu sinh tiến sĩ ở Úc kể rằng anh đã loay hoay vì tự nghi ngờ chính quan điểm phương pháp luận của mình cho đến khi đọc về các quan điểm nhận thức luận chính thống của khoa học để rồi vỡ òa vì tìm được tiếng nói chung với tư duy của các vị tiền bối khoa học (xem bài viết tại https://goo.gl/Exp2db). Như vậy, có vẻ như đúng là người ta không nhắc đến phương pháp luận ở lớp hoặc là sinh viên nghe về chúng như nước đổ lá môn. Cũng vì sợ phải đối diện với sự trừu tượng của phần phương pháp luận, sợ sinh viên bỏ lớp mà tôi đã không đưa phần này vào bài giảng mà chỉ điểm sơ qua một vài khái niệm có liên quan trực tiếp và không thể không nói đến để làm nền tảng cho phương pháp định lượng. Sau này, tôi sẽ cố gắng khắc phục điểm này và đưa các khái niệm triết học vô bài sao cho chúng ít khô khan nhất có thể. Bởi lẽ, quan điểm phương pháp luận là sợi chỉ dẫn đường cho phương pháp nghiên cứu của bạn xuyên suốt quá trình từ đặt câu hỏi, xây dựng cơ sở lý thuyết, thu thập dữ liệu cho đến bàn luận kết quả nghiên cứu. Nắm rõ phương pháp luận là một điều kiện tiên quyết của người nghiên cứu sinh cao học và của những nhà khoa học nghiêm túc và muốn làm những nghiên cứu có giá trị khoa học.
----

BẢN THỂ LUẬN VÀ NHẬN THỨC LUẬN

Có hai câu hỏi hay là hai phạm trù triết học xoay quanh việc tìm kiếm tri thức của con người. Câu hỏi triết học thứ nhất nói về bản chất của sự thật (nature of reality).Điều gì tồn tại thực sự trên đời? Có cái gì trên đời mà ta cần phải đi tìm học?WHAT to study or to gain knowledge about? Phạm trù triết học trả lời cho câu hỏi này được gọi là BẢN THỂ HỌC (Ontology), nghĩa là học về sự tồn tại (the study of being) hay là về bản chất của sự thật (the nature of reality). Câu hỏi triết học thứ hai bàn về cách mà ta đạt được tri thức. Coi như ta biết những sự thật, những điều thực sự tồn tại ngoài kia là gì rồi, bây giờ làm sao ta biết được cách tiếp cận chúng, và bằng cách nào? HOW to acquire knowledge? Làm sao ta giải thích thỏa đáng cho một tuyên bố của ta về một điều tồn tại ngoài kia? HOW to turn a belief into a justified belief? Phạm trù triết học trả lời cho câu hỏi này được gọi là NHẬN THỨC LUẬN (Epistemology).

BẢN THỂ HỌC

Có nhiều quan điểm về bản thể học và các quan điểm này khác nhau ở hai câu hỏi cốt lõi:
1. Sự thật tồn tại một cách chủ quan (subjective) hay khách quan (objective)? Nói cách khác, sự thật có tồn tại độc lập với suy nghĩ của con người không?
2. Sự thật chỉ gồm những thứ cụ thể (the specifics) hay là cả những thứ phổ quát (the universals)?
Thứ cụ thể là thứ mà các thuộc tính của nó có thể quan sát được và ngược lại, thứ phổ quát là những kháin niệm trừu tượng và không quan sát được. Ví dụ, con chó soi gương và vẫy đuôi khi thấy mình trong đó là thứ quan sát được. Còn trí thông minh của con chó là thứ trừu tượng, không thể quan sát được. Có nhiều quan điểm về bản thể học, ta hãy thử xem qua ba quan điểm sau và để ý xem chúng khác nhau như thế nào dựa trên cách chúng trả lời hai câu hỏi trên.

THUYẾT DUY TÂM - IDEALISM
Những người theo thuyết duy tâm quan niệm rằng sự thật tồn tại duy nhất là ở trong suy nghĩ của con người. Không hề có sự tồn tại của thế giới vật chất bên ngoài ý chí con người bởi vì tất cả những tri nhận (perceptions) của con người về thế giới thực ra đều bắt nguồn từ các tiến trình vận động của tâm trí con người (mental processes). Sự thật là một khái niệm tạo dựng bởi tâm trí (mental construct). Cái ôm, tình yêu, điểm 10, trí thông minh là có thật, nhưng chỉ trong suy nghĩ của ta. Như vậy, với những nhà duy tâm, câu hỏi thứ hai của bản thể học không còn cần thiết phải trả lời nữa. Dù cụ thể hay phổ quát không quan trọng, sự tồn tại hay không tồn tại của chúng do tư tưởng con người quyết định.

THUYẾT DUY VẬT - MATERIALISM
Ngược lại với thuyết duy tâm, những người theo thuyết duy vật cho rằng sự tồn tại duy nhất trên đời là vật chất. Chúng tồn tại khách quan và không phụ thuộc vào suy nghĩ của con người. Tất cả những tư tưởng và tiến trình phi vật chất khác như suy nghĩ, nhận thức hoặc cảm xúc của con người đều là những sản phẩm phụ của quá trình tương tác giữa não bộ và các thế giới vật chất bên ngoài. Thuyết duy vật cũng như duy tâm, không quan tâm nhiều đến câu hỏi thứ hai của bản thể học, đó là sự phân biệt giữa cụ thể và phổ quát. Chừng nào sự tồn tại là vật chất thì còn được công nhận như một sự thật cần đi tìm hiểu. Như vậy, có thể thấy rằng thuyết duy vật mặc nhiên phủ nhận các yếu tố phổ quát, trừu tượng khỏi hành trình tìm kiếm tri thức.

THUYẾT HIỆN THỰC - REALISM
Tương tự như thuyết duy vật, những người theo chủ nghĩa hiện thực cũng cho rằng sự tồn tại duy nhất trên đời là ở dạng vật chất. Nhưng điều khác biệt là người theo thuyết hiện thực thừa nhận sự tồn tại của những yếu tố trừu tượng, chẳng hạn như hạnh phúc (happiness) hay trọng lực (gravity). Mỗi nhánh nhỏ của thuyết hiện thực đều có những quan điểm riêng về dạng thức tồn tại của những điều trừu tượng. Plato là một nhà triết học cổ đại theo chủ nghĩa hiện thực. Điều thú vị ở chỗ, mặc dù ông công nhận sự tồn tại của sự thật khách quan, nhưng ông cho rằng sự thật này tồn tại độc lập với tư tưởng con người và cũng độc lập với thế giới vật chất (the physical world). Theo ông, bởi vì giác quan con người rất dễ bị đánh lừa nên cái thế giới vật chất mà con người tri nhận được luôn mắc sai lầm, do đó cũng không phản ánh thực tế về sự tồn tại của sự thật.
Nguồn: Internet


Thuyết hiện thực trong khoa học (scientific realism) có quan điểm ôn hòa hơn khi cho rằng chúng ta có thể quan sát sự vật hiện tượng vật chất và sau đó tổng hợp thành những quy luật chung. Những quy luật chung này được diễn đạt bằng những khái niệm mang tính trừu tượng. Hiện tượng trái banh khi thả sẽ rơi xuống đất là biểu hiện của quy luật về trọng lực. Hành vi soi gương và vẫy đuôi khi nhìn thấy mình trong gương là biểu hiện của khả năng tự nhận biết chính mình (self-awareness), một dạng thức của trí thông minh theo mô hình của Gardner. Nhà khoa học theo chủ nghĩa hiện thực công nhận (hoặc là tạm thời giả định - provisionally assume) các khái niệm trừu tượng bởi vì nó hữu ích và vô cùng cần thiết trong việc thiết lập các giả thuyết khoa học. Thử nghĩ xem bạn sẽ khó khăn thế nào để tỏ tình bằng câu ‘Anh yêu em.’ nếu bạn không được dùng từ ‘yêu’ hay ‘tình yêu’ để bày tỏ ngắn gọn, súc tích nhất cho tất tần tật những hành vi cưa cẩm trước đó như mua hoa, tặng quà, nấu cho ăn hay chở người thương đi xem phim.

NHẬN THỨC LUẬN

Nhận thức luận, hay là lý thuyết về tri thức. Có nhiều quan điểm nhận thức luận. Bài viết này sẽ bàn về hai quan điểm quan trọng nhất.

THUYẾT DUY LÝ - RATIONALISM

Người theo chủ nghĩa duy lý cho rằng kiến thức chỉ có thể có được bằng cách suy luận (reasoning). Người ta dùng tư tưởng của mình để lập luận và đưa ra kết luận về sự vật hiện tượng mà không cần thông qua trải nghiệm của các giác quan về thế giới xung quanh. Những nhà duy lý đầu tiên là Plato ở thời kỳ cổ đại và Rene Descartes ở đầu thời kỳ khai sáng. Quan điểm hiện thực về bản thể học của Plato cho rằng sự thật chỉ tồn tại ở dạng vật chất và độc lập với suy nghĩ của con người nhưng vì giác quan của con người luôn mắc sai lầm, nên cách duy nhất để đi tìm sự thật về thế giới vật chất đó là thông qua suy luận. Tương tự, Descartes - người đương thời với Galileo và cũng sống trong thời kỳ đầu của cuộc cách mạng khoa học, đã trở nên nghi ngờ mọi kiến thức mà ông học được từ sách vở từ thời kỳ cổ đại của Plato và Aristotle tích lũy qua suốt đêm trường trung cổ ở Châu Âu, đến mức ông chỉ chỉ còn giữ lại một niềm tin duy nhất chắc chắn, “Tôi tư duy nên tôi tồn tại.” Cũng giống như Plato, ông cho rằng giác quan con người dễ bị đánh lừa nên không đáng tin, vì vậy chỉ có suy luận mới là con đường tìm kiếm tri thức đúng đắn nhất.

THUYẾT DUY NGHIỆM - EMPIRICISM
Ngược lại, với những người theo chủ nghĩa thực nghiệm như Aristotle và Galileo, trải nghiệm bằng giác quan là con đường quan trọng để đạt đến tri thức về thế giới. Với những nhà chủ nghĩa duy nghiệm cực đoan hơn như Francis Bacon, David Hume và các nhà thực chứng sau này (the positivists), như nhóm Vienna Circle, thì trải nghiệm giác quan là cách thức duy nhất để đi tìm tri thức. Aristotle cho rằng con người sinh ra là một tấm bảng trắng (tabula rasa) và tri nhận về thế giới sẽ lấp đầy tấm bảng đó. Ông vẫn sử dụng suy luận logic và dùng các khái niệm phổ quát để khái quát hóa các quan sát của mình và gọi đó là các nguyên tắc đầu tiên hay còn gọi là tiền đề (first principles/ premises). Có thể gọi ông là một nhà thực nghiệm ôn hòa. Tuy nhiên, điểm yếu của Aristotle là ở chỗ các quan sát của ông không có hệ thống nên ông mắc sai lầm (bias) có khi ngay từ các tiền đề, từ đó dẫn đến kết luận sai. Sau này, Galileo sử dụng quan sát một cách có hệ thống, có kiểm soát bằng thực nghiệm (experiments) kết hợp với kiểm chứng bằng tư duy logic (thought experiments) về cùng một sự vật, hiện tượng cho các giả thuyết của mình. Ông đánh giá cao thực nghiệm nhưng cũng xem trọng suy luận logic. Quyển sách ‘The Book of Nature’ trong đó ông giải thích các kiến thức về tự nhiên bằng toán học là minh họa kinh điển cho vai trò của logic toán học bên cạnh quan sát có hệ thống trong việc tìm ra tri thức về thế giới.

Bài viết tiếp theo sẽ bàn về một số khái niệm phương pháp luận khác như diễn dịch, quy nạp và phương pháp nghiên cứu của khoa học ngày nay: diễn dịch - giả thuyết (hypothetico-deductive method) và thực nghiệm kiến tạo (constructive empiricism). Bạn sẽ nhận ra rằng các quan điểm nhận thức luận của khoa học hiện đại đã trở nên ôn hòa và linh hoạt hơn so với các quan điểm của khoa học từ trước thế kỉ 20.

Thứ Bảy, 24 tháng 2, 2018

Tư duy hằng ngày: khoa học hay không khoa học?*


Nguồn: Một cảnh trong phim Spectacular Now. 
Cô gái luôn tư duy kỹ càng và anh chàng vô lo vô nghĩ phải lòng nhau

Phương pháp khoa học: Để có một khối óc sáng suốt

Phương pháp khoa học trước hết là một cách tư duy mà ta áp dụng trong đời sống hằng ngày. Chúng ta không thể trông cậy vào các phương pháp ngoài khoa học để đi tìm lời giải về thế giới xung quanh. Cách tư duy độc lập và khoa học giúp ta tư tưởng rõ ràng, sáng suốt. Người xưa đã có câu: “Một thân thể không đau, một tinh thần không loạn, đó là chân hạnh phúc của con người.” hẳn ý muốn nhắn nhủ với ta rằng nếu muốn trở thành con người thực thụ, ta không chỉ cần phải rèn luyện để có một thân thể khỏe mạnh mà còn phải đào luyện cho chính mình một khối óc sáng suốt.
Bạn hãy thử xem ví dụ sau. Anh Bình là một công chức trung lưu, sống tại một khu dân cư mới, anh thường đậu chiếc xe hơi của mình ở trước nhà. Anh có thói quen đọc báo giấy và thường mua báo tại một sạp quen trong thành phố. Gần đây, anh sử dụng dịch vụ đặt báo giao tại nhà để có thể đọc báo trước khi đến sở làm. Người giao báo cho anh là một cậu bé trạc 12-14 tuổi. Cũng từ hôm ấy, anh Bình phát hiện chiếc kính chiếu hậu của xe anh bị xô lệch sang một bên. Sự trùng hợp này khiến anh Bình nghi vấn rằng cậu bé bán báo có thể là có liên quan đến sự kiện kính hậu của anh bị xô lệch.
Để kiểm tra nghi vấn của mình, anh Bình quyết định nấp và quan sát từ bên hông nhà vào thời điểm cậu bé đến giao báo. Hôm ấy, kính của anh ko bị xô lệch. Như vậy, sự kiện kính bị xô lệch và sự kiện cậu bé đến giao báo dường như không có liên quan với nhau. Tuy nhiên, có một khả năng xảy ra, đó là cậu bé bằng cách nào đó, nhận biết sự có mặt của anh ở bên hông nhà hôm ấy và đã không hành động.
Để kiểm tra thêm 1 lần nữa, anh Bình quyết định hủy đặt hàng báo. Hôm sau, cậu bé không giao báo nữa, và anh Bình phát hiện kính hậu xe vẫn bị xô lệch. Ta thấy là có thêm một bằng chứng nữa cho thấy không có mối quan hệ giữa sự kiện cậu bé giao báo và sự kiện kính bị xô lệch, và nghi vấn ban đầu của anh Bình là sai.
Như vậy, anh Bình trong câu chuyện trên đã kết hợp quan sátsuy luận để đi tìm lời giải cho nghi vấn của mình về thế giới rằng, có hay không mối quan hệ giữa sự kiện cậu bé giao báo và sự kiện kính xe bị xô lệch. Nếu anh phán đoán nóng vội, chỉ dựa trên suy đoán chủ quan của bản thân, có lẽ anh đã đi đến một kết luận sai lầm không đáng có về người khác.
Đến đây, nếu bạn là fan của Conan Doyle bạn chắc sẽ nhận ra rằng óc quan sát nhạy bén và suy luận sắc sảo của nhân vật nhà thám tử tài ba Sherlock Holmes là thứ mà ta có thể học hỏi để có được khả năng tư duy khoa học và rành rọt về các sự kiện của đời sống.

Phương pháp ngoài khoa học: Để có một khối óc hạnh phúc

Tuy nhiên, trong cuộc sống thường nhật, không phải lúc nào chúng ta cũng cần phải căng mình lên để suy nghĩ mọi thứ với một đầu óc sáng suốt và khoa học hoàn hảo. Để cho cuộc sống trở nên hiệu quả và có thể nhanh chóng giải quyết vấn đề, ta thường dựa vào kinh nghiệm và trực giác để ra quyết định và hành động. Những cách thức này ta thường sử dụng trong các tình huống của đời thường vì chúng không những giúp ta kịp thời phản ứng lại đòi hỏi liên tục cấp kỳ của cuộc sống mà còn giúp ta tiết kiệm nguồn lực tâm trí, để dành nguồn lực đó cho một vài công việc ít ỏi khác nằm trong chuyên môn của ta hơn. Tư duy khoa học cho tất cả mọi câu hỏi và quyết định trong đời sống là điều không tưởng bởi nó sẽ khiến cho bạn bị kiệt sức. Tương tự, trong môn tư duy phản biện, sinh viên được học rằng tư duy phản biện trong đời sống không hẳn là tốt. Một người luôn ‘critical’ trong mọi vấn đề sẽ làm cho chính mình và những người xung quanh mệt mỏi. Đôi khi, bạn phải để cho người khác cầm tay lái và bạn chỉ việc ngồi sau ngắm cảnh, chẳng bận lòng về việc mình sẽ đi đâu, miễn là mình sẽ được đến một nơi tốt đẹp và hợp ý.
Ta thử lấy một ví dụ nôm na.
Bạn muốn mua một đĩa nhạc jazz mới để nghe dịp Tết mà bạn băn khoăn không biết chọn ai. Có quá nhiều nghệ sĩ jazz đương đại, bạn vừa hào hứng trước ý nghĩ sẽ khám phá ra một album tuyệt hảo của một nghệ sĩ jazz trẻ**, lại vừa nản lòng vì có những nghệ sĩ jazz không có gì nổi bật và không chạm được bạn. Thay vì tự loay hoay để tìm cho ra một lựa chọn hợp nhất với ý mình, bạn đề nghị những người bạn của mình góp ý. Những người mà bạn chơi chung ắt hẳn có những điểm giống bạn, vì vậy, bạn có thể tin cậy vào chọn lựa của họ rằng đó là một lựa chọn hợp với bạn mặc dù gu nhạc của bạn có thể không hẳn là trùng khớp với gu của họ. Nhưng bạn đâu cần độ chính xác hoàn hảo trong trường hợp này. Khả năng bạn tìm được một lựa chọn phù hợp vẫn cao hơn tìm kiếm ngẫu nhiên gấp nhiều lần mà lại ít hao tổn tâm trí cho việc tìm kiếm và chọn lựa. Hẳn là không khó để giải thích vì sao mối quan hệ và sự kết nối với những người xung quanh là một trong những yếu tố có tương quan cao nhất với sự hạnh phúc của con người (nghiên cứu của Harvard, nghe tóm lược ở https://goo.gl/BNfEjX)
Ví dụ trên có liên quan gần gũi đến khái niệm nghịch lý của chọn lựa (the paradox of choice) và vai trò của gắn kết xã hội (social connection) trong sự hạnh phúc của con người. Bạn có thể liên hệ tới nhiều tình huống phức tạp khác khi mà bạn không tự đi tìm lời giải cho vấn đề của mình. Trong nhiều tình huống, kiến thức có được từ kinh nghiệm của chính ta hay của người khác, từ trực giác tinh nhuệ có được do sự uyên bác của nhà chuyên môn, hoặc từ tập quán lâu đời của dân tộc là rất có ích cho đời sống thường ngày bởi nó giúp ta sống hiệu quả và hạnh phúc hơn.
Triết học cổ xưa, là tổ tiên của các ngành khoa học hiện đại như ta thấy ngày nay, đã từng là một nguồn tri thức dẫn dắt đời sống của con người. Mặc dù khoa học đã thay đổi, cập nhật nhiều kiến thức xưa đó, nhiều tác phẩm triết học vẫn còn giữ nguyên giá trị đến ngày nay. Chẳng hạn, Đạo Phật vừa là một tôn giáo, vừa là một triết lý sống. Hiểu theo nghĩa nào thì ta cũng thấy là, các tàng thư Phật Giáo, dù không có tác phẩm nào do chính Đức Phật hoặc các học trò trực tiếp của Người viết ra, đều chứa rất nhiều tri thức mà người ta có thể học hỏi và ứng dụng vào đời sống.
Tôn giáo là một ví dụ kinh điển về việc chọn lựa niềm tin và cách thức để đạt được sự hiểu biết của con người. Người bạn đời của tôi tin rằng trên đời có chúa và ta không bao giờ có thể thấy chúa bởi chúa là đấng sáng tạo và ngự ở một thượng tầng mà người cõi tạm chúng ta không được tạo ra để nhìn thấy chúa bằng mắt thường. Là một con người lý trí và theo thuyết không thể biết (bất khả tri), tôi cứng rắn nói với anh rằng chừng nào tôi còn chưa kiểm chứng được bằng giác quan về sự tồn tại của chúa, chừng đó tôi còn chưa bị thuyết phục.

"Em có thấy quang phổ hoặc sóng âm không? Chúng mình không nhìn được những ánh sáng nằm ngoài phổ nhìn thấy được (khoảng từ 380 - 700 nm) hoặc nghe được các âm thanh có tần số quá thấp (dưới 16Hz) hay quá cao (trên 20 ngàn Hz), điều đó đâu có nghĩa là những loại ánh sáng hoặc âm thanh đó không tồn tại?".

Lời giải thích của anh làm tôi bối rối. Quả thật, suy cho cùng thì nguồn tri thức đến từ khoa học cũng chỉ là một kênh tiếp cận tri thức về thế giới. Tri thức của khoa học thường đến chậm và rất dè dặt so với trí tưởng tượng và đời sống tâm linh phong phú của con người. Hơn nữa, trong các bài sau bạn sẽ thấy, khoa học không phải là cứu cánh siêu đẳng và được miễn nhiễm với mọi sai sót. Khoa học nằm trong bàn tay con người, mà con người có thể mắc sai lầm. Như vậy, hiểu và thực hành phương pháp khoa học không có nghĩa là chối bỏ, phủ nhận những lối tư duy khác mà nghĩa là trở nên vị tha hơn với sự khác biệt.
Đến đây bạn thấy rằng có hai phương pháp để tiếp cận tri thức phục vụ cho các nhu cầu của cuộc sống thường ngày. Chọn cách tư duy nào tùy thuộc vào mục đích và ưu tiên của bạn. Nếu bạn là một nhà chuyên môn, bạn không thể viện lý do rằng vì muốn tiết kiệm nguồn lực não bộ, muốn sống hạnh phúc hoặc vì bạn là người tu tập theo Phật pháp nên bạn sử dụng cách thức ngoài khoa học để trả lời câu hỏi hoặc để đưa ra một quyết định mang tính chuyên môn. Nếu bạn là một chuyên gia kỳ cựu, bạn có thể tận dụng trực giác nhạy bén và kiến thức uyên bác mà bạn dày công tích lũy. Nhưng như vậy chưa đủ bởi nó có nguy cơ dẫn đến sai lầm. Điều bạn cần làm là sử dụng phương pháp khoa học như một giàn giáo vững chãi cho ngôi nhà chuyên môn của mình. Sinh viên tâm lý là những nhà tâm lý học tương lai và giống như nhà chuyên môn dù ở bất kỳ lĩnh vực nào khác, họ cũng cần có phương pháp khoa học. Trong khi phương pháp khoa học trong cuộc sống thường ngày là một cách tư duy bằng quan sát và suy luận đơn giản, phương pháp khoa học trong nghiên cứu tâm lý và trong các ngành khoa học nói chung là một hệ thống tư duy tuân thủ theo những nguyên tắc nghiêm ngặt và chặt chẽ hơn rất nhiều mà nhà khoa học dùng để đi tìm câu trả lời về thế giới xung quanh.

----

*Bài đọc thêm, không phải là bài trong chương trình giảng dạy.
**Tôi đã từng làm được điều này và tìm ra rất nhiều nghệ sĩ jazz tuyệt vời mà tôi nghe mê mệt và không biết chán suốt mấy năm cho tới tận bây giờ như Katie Melua, Sophie Milman và Madeline Peyroux, chỉ bằng việc nghe Norah Jone và Billie Holiday liên tục trên Last.fm nhờ vào thuật toán giúp đề xuất nhạc cùng gu cho người nghe dựa vào playlist cá nhân của họ. Đề xuất của Youtube ít khi đáp ứng được gu của tôi ở mức đỉnh của đỉnh như Last.fm (gần như là trên 90%). Đáng tiếc là bây giờ Last.fm không còn cung cấp dịch vụ Scrobble này cho thị trường Việt Nam nữa rồi (và có lẽ là nhiều nơi khác ở ngoài Mỹ và Canada).