Bài nguyên gốc: “Why Virtual Classes Can Be Better ThanReal Ones?” của Barbara Oakley đăng trên Nautil.us ngày 29/10/2015,
Người dịch: Phạm Thị Thủy Tiên
-------
Cùng với nhà khoa
học thần kinh Terrence J. Sejnowski, Giáo sư Francis Crick tại Viện Nghiên Cứu
Sinh Học Salk, tôi dạy một trong những khóa học trực tuyến phổ biến nhất trên thế
giới (MOOCs), “Học Cách Học”, Khóa học tổng hợp kiến thức từ các lĩnh vực khoa
học thần kinh, tâm lý học nhận thức, và giáo dục để giải thích cách mà não bộ hấp
thụ và xử lý thông tin, từ đó giúp chúng ta học hiệu quả hơn. Kể từ ngày phát
hành trên website Coursera vào tháng 8 năm 2014, xấp xỉ 1 triệu lượt học viên từ
khoảng 200 quốc gia đã đăng ký học lớp của chúng tôi. Chúng tôi có học viên là
nhà tim mạch học, kỹ sư, luật sư, nhà ngôn ngữ học, em nhỏ 12 tuổi, và người tị
nạn chiến tranh ở Sudan. Chúng tôi nhận được những emails đại loại như một cái
thư gửi gần đây nhất như vầy: “Tôi sẽ nói ngắn thôi. Tôi vừa hoàn thành khóa học
MOOC của bạn mới đây thôi và nó đã thay đổi cuộc đời tôi theo những đường hướng
mà bạn không thể hình dung ra đâu. Tôi vừa chạm ngõ 29 tuổi, và tôi đang trên
con đường thay đổi nghề nghiệp sang khoa học máy tính, và tôi chưa bao giờ cảm
thấy hào hứng trong việc học tập đến thế.”
Tất cả giáo viên
trên đời đều hiểu cái cảm xúc lâng lâng khi nhận được những thông điệp như vậy.
Không dừng lại ở việc làm người dạy hài lòng, dòng thư đó cũng đã nói lên ảnh
hưởng của MOOCs. Chúng ta đều biết tầm quan trọng của một hệ thống giáo dục, và
xã hội sẽ được thụ hưởng nhiều đến nhường nào nếu giáo dục được cải thiện, đặc
biệt là những đối tượng có bất lợi trong xã hội. Các khóa học trực tuyến cho
phép chúng ta mở rộng quy mô của những cơ hội giáo dục đó – một nền giáo dục với
chi phí thấp. Những con số đầu tiên đã cho kết quả ấn tượng. Hơn 500 cao đẳng
và đại học và 200 cơ sở và viện đào tạo cung cấp MOOCs, với tổng cộng 30 triệu
lượt người dùng.
Cùng thời gian
đó, khóa “Học Cách Học” đã vươn lên trở thành một trong những trải nghiệm giáo
dục mà tôi hài lòng nhất trong suốt 20 năm làm nghề giáo – tôi hiện là giáo sư
ngành kỹ nghệ tại đại học Oakland ở bang Michigan – tôi thú nhận là đã có lúc
tôi có cảm giác phòng vệ một chút. Thành công và những tiềm năng giáo dục khủng
khiếp của MOOCs đã dấy lên hồi chuông phản tỉnh mà ta thấy rõ qua các bài báo ở
các tạp chí cấp cao trong vài năm trở lại đây. Trong một bài báo tên “Mắc bẫy
trong lớp học ảo” đăng trên tờ New York Review of Books, David Bromwwich, giáo
sư Sterling môn tiếng Anh ở Đại Học Yale, tuyên bố rằng “phong trào MOOC đi
song hành với xu hướng cơ khí hóa mọi thứ” và “đẩy lùi những suy nghĩ phức tạp
hơn về nội dung và những mục tiêu của nền giáo dục đúng nghĩa”. Một vài bài báo
khoa học đã công bố tỉ lệ bỏ học ở MOOCs là hơn 90%. Và Robert Zemsky, Chủ tịch
Hiệp hội học tập Cao học tại Trường Cao Học Giáo Dục của Đại học Pennsylvania
đã viết rằng MOOCs, đứng trước khả năng bị suy thoái, “không thú vị về cả khía
cạnh sư phạm cũng như kỹ thuật.”
Tôi muốn nhấn mạnh
rằng những người phản đối MOOCs có rất ít kinh nghiệm trong việc tạo ra và dạy
các khóa trực tuyến. Sự thật là MOOCs có thể trở nên rất hấp dẫn cả về mặt thẩm
mĩ và về mặt kỹ thuật và có những ưu điểm xuất sắc về mặt sư phạm. Điều này đặc
biệt đúng trong các môn thuộc lãnh địa của STEM, tức Khoa Học, Kỹ Thuật, Kỹ Nghệ,
và Toán, những môn này cần giải thích nhiều khái niệm khó và đòi hỏi sinh viên
phải tua lại một phần của bài giảng để hiểu cặn kẽ, hoặc đơn giản là bấm nút tạm
dừng để sự thông hiểu kịp đi vào nhận thức. Về tỉ lệ bỏ học, Keith Devlin, một
nhà toán học thuộc Đại Học Stanford đã chỉ ra rằng nhiều bài báo về sự tiêu
hao học viên được trích dẫn rộng rãi vốn chỉ dựa vào những thước đo cổ điển của
giáo dục cao học là “hoàn toàn sai lầm”. Người ta đăng ký vào MOOCs vì các lý
do khác so với lý do người ta đăng ký các lớp học ở trường cao đẳng truyền thống.
“Nhiều người thậm chí chưa bao giờ có ý định hoàn tất khóa học và thi cử,”,
Devlin viết. Họ “đến để học. Thuần khiết và đơn giản vậy thôi.”
Ở những khoá
MOOCs tốt nhất, học viên có thể tận hưởng một nền giáo dục thực sự, có thể thúc
đẩy những tư duy phức tạp về các mục tiêu của giáo dục. Các khoá học trực tuyến
có thể níu giữ sự tập trung của học viên, đôi khi còn tốt hơn nhiều so với giáo
viên có thể làm. Tạo ra khóa “Học Cách Học” đã cho chúng tôi một cơ hội để làm
một cuộc nghiên cứu “meta” về dạy và học. Terry và tôi dùng các phương tiện trực
tuyến để giúp học viên vượt qua các trở ngại mà họ gặp phải khi đối diện với những
phương pháp dạy học truyền thống, và cho họ những tư duy thấu đáo về bản chất của
quá trình học tập.
Loài nhện Chile sống
ẩn dật được cho là một trong những loài nhện hoang dã nguy hiểm nhất. Một phát
cắn của nó có thể giết chết bạn. Chúng to lớn – có thể dài đến 1 inch rưỡi.
Chúng cũng rất nhanh. Tưởng tượng bạn thấy một con nhện Chile ở trên sàn nhà và
cách bạn 20 feet. Nhìn lại – đột ngột, nó đã ở cách bạn 2 feet rồi. Điều này sẽ
thu hút sự chú ý của bạn, đúng không?
Ở đây, chúng ta đang nói đến hệ thống liên kết của các nơ rôn thần kinh đằng sau việc tại sao
chuyển động - đặc biệt là loại chuyển động của một vật thể từ nhỏ đột ngột trở
nên to lớn như của loài nhện kể trên - lại thu hút sự chú ý. Khi trí não ta phát
giác ra một vật thể đột nhiên lù lù xuất hiện, các nơ rôn truyền tin đến cho hạch
hạnh nhân của não bộ, một trung tâm vận hành của cảm xúc và động lực. Hiện tượng
lớn lên đột ngột của vật thể là một sự kiện quan trọng, ta biết rằng các sinh vật
từ côn trùng, bò sát, chim chóc, và cả con người đều phản ứng lại với loại chuyển
động lớn lên đột ngột này (looming motion).
Não người tiến
hóa với một khả năng lưu giữ sự tập trung một cách thoáng qua đối với bất kỳ điều
gì. Những người luôn chỉ chăm chú nhìn vào con linh dương đầu bò mà họ đang săn
đuổi sẽ có thể bị kết liễu bởi những con sư tử rập rình xung quanh. Vì vậy chẳng
có gì đáng ngạc nhiên khi con người không quen phải ngồi im trong một quãng thời
gian quá dài, tập trung hết mức vào một người giáo viên đang giảng giải bài học.
Cho dù chúng ta thích hoặc cảm thấy bài học thú vị đến đâu đi nữa thì một bài
giảng trên lớp thực sự đã đi lạc điệu với cách mà não bộ chúng ta làm việc.
Có một một vấn đề
trong dạy học. Nghe có vẻ kì dị khi thậm chí hỏi rằng giáo viên có giúp chúng
ta học không. Trực giác của ta nói rằng hẳn là có. Và thực tế là họ có giúp ta
học – những giáo viên giỏi nhất dường như có thể bước vào đầu ta để cảm nhận
chính xác ra cái thứ mà ta cần để có được khoảng khắc reo lên “à há!” của bước
đầu thấu hiểu. Họ có thể mê hoặc, hành hạ, và truyền cảm hứng cho ta học tốt
hơn, thậm chí khi ngọn núi tri thức cao nhất mà ta cần phải leo tới để trở nên
thành thạo trong môn học là cực kỳ cao. Những giải thích rõ ràng, nguồn cảm hứng,
óc hài hước, sự tập trung của người thầy vào những khái niệm khó hiểu đối với từng
cá nhân – tất cả những điều đó giúp chúng ta khao khát đi tiếp trong cái nhiệm
vụ học tập mà đôi lúc trở nên vô vàn khó khăn.
Nhưng những nghiên
cứu kiểm chứng cái điều trực giác trên đã cho thấy giáo viên thực sự không có vẻ
như giúp đỡ chúng ta học tốt lắm. Một bài báo xuất bản năm 1985, tựa đề “Nền tảng
kiến thức ban đầu của sinh viên cao đẳng vật lý”, bởi giáo sư vật lý Ibrahim
Abou Halloun và David Hestenes, tiết lộ rằng chúng ta đưa sinh viên vật lý vào
các lớp truyền thống “giảng giải với bảng đen và phấn trắng”, những sinh viên
đó nâng cao mức hiểu biết về vật lý của họ hơn rất ít ỏi so với lượng kiến thức
họ đã có – thậm chí khi mà người giáo viên là một người đoạt giải giáo viên giỏi.
Bài báo của
Halloun và Hestenes tạo ra một cơn chấn động trong nền giáo dục các môn khoa học.
Làm sao mà các phương pháp sư phạm truyền thống lại có thể tệ hại như vậy trong
việc đào tạo sinh viên? Khi các nhà nghiên cứu đang vật lộn với những gợi ý, họ
bắt đầu kiểm chứng các phương pháp dạy học mới và tốt hơn. Nghiên cứu mang tính
cách tân của nhà vật lý học Richard Hake và cộng sự đã tiết lộ rằng sự tham gia
tương tác trong lớp học, tính cả các lớp học lớn với hơn 100 sinh viên, cho thấy
sự tiến bộ rõ rệt trong lượng kiến thức thu được trong một học kỳ, so sánh với
các cách tiếp cận “từ trên bục giảng” truyền thống. Lưu giữ sự tập trung của
sinh viên có thể được cải thiện, bằng việc cho phép họ nói chuyện và làm việc
tương tác lẫn nhau.
Nhiều lớp học ở bậc
cao đẳng đã chuyển sang lối tiếp cận này. Một nghiên cứu meta-analysis tiến
hành bởi Scott Freeman và cộng sự tại Cuộc họp của Viện Hàn Lâm Khoa Học Quốc
Gia đã cho thấy rằng học “chủ động” tạo ra một sự cải thiện trong các lớp học
khoa học, kỹ nghệ, và toán đến mức mà nếu ai đó không dùng cách thức này thì gần
như là một lối dạy học phản sư phạm đáng lên án. Nhưng học không phải lúc nào
cũng là tương tác. Đôi lúc càng tương tác, tiến trình học tập càng trì trệ. Thường
thì những người ủng hộ phương pháp học chủ động (Tôi là một trong số đó; tôi đồng
tác giả một bài báo năm 2004 về đề tài này) đề xuất rằng một lối tiếp cận với
việc dạy học phù hợp phải tạo ra cân bằng giữa thời gian giảng giải của người
giáo viên cùng với thời lượng cho việc “chủ động” học của sinh viên, một mặt cho phép sinh viên không gian để tự mình
vật lộn với học liệu, mặt khác thỉnh thoảng
tương tác với bạn học.
Lý giải cho điều
nghịch lý về giá trị của người giáo viên có lẽ nằm ở vấn đề bối cảnh của
các cuộc nghiên cứu. Giáo viên phụ đạo riêng có thể giữ được sự tập trung của
sinh viên một cách tự nhiên không chỉ bằng cách đưa ra chỉ dẫn rõ ràng, mà con
bằng cách linh động trong giờ học, đặt câu hỏi, và cho nghỉ giải lao ngắn khi cần.
Trong các lớp học bảng đen và phấn trắng quy mô lớn hơn mà Halloun và Hestenes
điều tra, thậm chí các giáo viên giỏi nhất cũng không thể tránh khỏi trở nên
nhàm chán bởi các giờ giảng dài vô tận và các sinh viên bị kéo rê theo một cách
mệt mỏi.
Những kết quả
nghiên cứu này chỉ ra rằng, dù muốn hay không, ta cũng phải thừa nhận rằng bản
chất tập trung thoáng qua của não bộ của chính chúng ta bị tác động bởi những yếu
tố ẩn giấu và nằm ngoài khả năng nhận thức của ta. Sự thiếu khả năng duy trì tập trung
trong những quãng thời gian dài, cùng với nhu cầu của ta trong việc tự tìm hiểu
các thứ và nói những điều ta tìm được với người khác, giảm khả năng của ta
trong việc tận dụng hết mức người giáo viên của phương pháp dạy học truyền thống.
Với sự phát minh
của Internet, một lối tiếp cận mới mẻ hơn trong dạy học là các lớp học với “một
cái búng tay”. Cụ thể là, các giáo sư được ghi âm và hình ảnh vào các đoạn
video để học viên có thể xem tại nhà, giúp tổng hợp và mang các ý tưởng chính
trở nên sống động hơn. Các giờ học sau đó được dành cho việc trả lời câu hỏi và
với các tương tác hợp tác lẫn nhau: giải quyết vấn đề, thảo luận nhóm về các vấn
đề và ý tưởng, và chỉ ra những điều hiểu lầm nảy sinh trong quá trinh học một
mình lúc đầu. Những kiểu tương tác cá nhân kiểu này chính là chỗ mà cả giáo
viên, và các bạn học cùng đều đóng vai trò vô cùng quan trọng.
Sự phát triển của
các lớp học với “một cái búng tay” đã dẫn đến sự ra đời của MOOCs như một điều
tất yếu, chạm đến một ranh giới quan trọng trong ngành giáo dục.
Có lẽ tài sản lớn
nhất của tôi khi tạo nên “Học Cách Học” chính là việc tôi đã từng là một sinh
viên dở tệ. Tôi thi trượt suốt trong môn toán và khoa học từ tiểu học, trung học
đến phổ thông. Toán bổ túc là thứ tôi chưa bao giờ đụng đến cho đến khi tôi 26,
sau khi tôi không còn ở trong quân đội nữa. (Cơ hội việc làm thấp có thể là một
động lực lớn cho việc thay đổi nghề nghiệp.) Tôi không thể học hiệu quả từ việc
nghe giảng - ở lớp, hầu như mọi thứ đều trở nên hấp dẫn kì lạ và phân tán tư tưởng
tôi, trừ ông giáo sư. Cách duy nhất mà tôi dùng để thành công đó là trở thành một
kẻ ghi tốc ký tại lớp – để rồi sau đó học các ghi chép này theo tốc độ và cách
thức của riêng tôi.
Khi tôi trở thành
người trưởng thành và bắt đầu học toán, tôi thường giận dữ khủng khiếp bởi học
liệu – thỉnh thoảng tôi cảm tưởng như là các quyển giáo trình và các ông giáo
sư vào hùa nhau để trình bày vấn đề sao cho hết sức phức tạp và khó hiểu. Bất kỳ
khi nào ông giáo sư kỳ cựu nào mà giải thích kiểu như “Dĩ nhiên, bằng trực giác
ta thấy rõ ràng là ...” tôi đều nổi cả da gà, bởi vì tôi biết là trực giác
không cho tôi thấy sự rõ ràng nào ở đây cả. Tôi không phải là người học nhanh –
thường tôi mất một khoảng thời gian dài để nhìn ra là cái mà tôi đang học thực
ra rất đơn giản.
Terry và tôi tạo
ra “Học Cách Học” để giúp sinh viên tự nhận ra và nắm vững cái chân lý đơn giản
ấy. Chúng tôi muốn kết hợp một vài điểm mạnh của việc phụ đạo trực tiếp với các
bài học gần đây về nhà sản xuất trò chơi game và chương trình truyền hình. Từ tốc
độ nhanh trong chương trình Grand Theft Auto đến hình ảnh tiền bay trong máy sấy
trong Breaking Bad, chuyển động luôn là một khía cạnh quan trọng trong việc tiến
sâu vào tiềm thức của người xem để đoạt lấy sự tập trung chú ý của họ.
Trong “Học Cách Học”,
chúng tôi tận dụng tối đa các chuyển động. Dùng màn hình xanh, tôi có thể bất
thình lình xuất hiện từ góc này sang góc kia của màn hình. Hoặc tôi có thể chuyển
từ thế đứng nguyên người sang nhìn cận mặt. Hoặc, trong khi tôi đang cười từ một
bên của màn hình, tôi có thể tăng tốc các đoạn video về con gái tôi đang vụng về
de chiếc ô tô nhà khỏi đường lái và ủi vào đám cỏ - một ví dụ sinh động của hệ quả của việc
không thuần thục về quy trình. Dĩ nhiên, đây toàn là những mẹo trong sản xuất
video, nhưng nó giúp níu giữ sự chú ý của học viên.
Thật ra, một
trong những thủ pháp được dùng bởi nhiều nhà khoa học vĩ đại là tưởng tượng
chính họ là một phần tử mà họ đang cố tìm hiểu. Einstein nổi tiếng với việc
hình dung ông ấy đang đuổi theo một tia sáng để giúp ông hình thành nên thuyết
tương đối. Barbara McClintock, người được trao giải Nobel, đã hình dung bà
trong vương quốc của những “jumping genes”, lãnh địa mà sau đó bà tìm ra và nhờ
đó mà trở nên nổi tiếng. Chúng ta có thể giúp các sinh viên của mình phát triển
loại trực giác tương tự như các nhà khoa học Nobel đó bằng việc thổi hồn vào
các vật thể trong các video theo cách mà dạy học truyền thống không thể nào làm
được. Chúng ta có thể bước vào mitochondria của tế bào, hoặc vào vòng giao lưu
của các ion tạo ra cực quang, hoặc hình xoắn ốc của phương trình Euler.
Một kỹ thuật thường
được dùng trong phương pháp dạy học trực tiếp tại lớp đól à dùng slide trình
chiếu của PowerPoint trong lúc giảng viên đứng kế bên. Bắt chước lối tiếp cận
này trong thể thức video, chúng ta sẽ thường thấy một đầu người đang nói ở góc
màn hình (mà bởi vì thiếu chuyển động, nên về cơ bản vẫn là hình tĩnh), trong
khi hình ảnh chính – piccolo hay là Picasso – được phóng lớn và thảo luận ở phần
còn lại của màn hình.
Nhưng cách “hai
hình ảnh” này thực tế là làm tăng gánh nặng cho nhận thức của người học. Với
hai hình ảnh tách biệt nhau trên màn hình, bạn sẽ phải thu nạp hai thứ cùng
lúc. Tuy nhiên, kỹ thuật màn hình xanh cho phép người giao sư dường như là đang
bước đi xung quanh chiếc lọ Hy Lạp cỡ lớn vi tính hóa có cùng kích cỡ với cô ấy.
Trong một đoạn video về sinh học, người giáo sư có thể chỉ vào các cấu trúc có
kích cỡ thực tế của tế bào. Trong kỹ nghệ, cô ấy có thể chỉ vào các bộ phận
khác nhau của một máy trao đổi nhiệt. Việc kết hợp mang tính điện ảnh giữa giáo
sư và đối tượng của thảo luận giảm gánh nặng nhận thức và giúp sinh viên chú ý
vào các chi tiết quan trọng – thậm chí khi mà, trong đời sống, những chi tiết ấy
rất nhỏ bé. Tất cả những yếu tố này có một ảnh hưởng lớn trong việc làm cho
sinh viên hiểu các ý tưởng một cách dễ dàng hơn.
Các hình ảnh ẩn dụ
và so sánh cũng quan trọng trong việc học tập giống như là việc giảm gánh nặng
nhận thức. Một lý thuyết gọi là “sử dụng lại nơ rôn” nói rằng chúng ta dường
như thường xuyên dùng cùng một mạng lưới nơ rôn để hiểu một ẩn dụ hoặc so sánh
với khi ta dùng để hiểu chính khái niệm thực sự ban đầu. Khi chúng ta dùng dòng
chảy của nước như một hình tượng so sánh với dòng điện, hoặc ý tưởng về một kẻ
theo dõi đang tiến thật gần giúp ta hiểu khái niệm giới hạn trong tích phân,
chúng ta đang sử dụng cùng mạng lưới nơ rôn chuyên trách việc thấu hiểu các
khái niệm trừu tượng đó. Các giáo sư khoa học, kỹ nghệ, và toán có thể tỏ ra
khinh khỉnh về việc thảy các mớ tài liệu của họ vô thành các hình ảnh so sánh
ngớ ngẩn. Những công cụ sư phạm này thực sự giá trị - chúng hoạt động giống như
những đoạn dường dẫn có độ dốc thoai thoải giúp cho sinh viên bước lên con tàu
với những ý tưởng phức tạp một cách nhanh chóng bằng việc sử dụng các mạng lưới
nơ rôn sẵn có.
Các khoá học trực
tuyến tốt giúp sinh viên cảm tưởng rằng giáo sư đang nói chuyện trực tiếp với họ.
Ánh nhìn thẳng vào camera của giáo viên chính là thông điệp về việc tập trung
vào cá nhân của các video. Sinh viên phát triển ý thức về một sự thân thuộc;
chúng tôi thường được cho là những gia sư cá nhân thân thiện. Nó làm cho chúng
ta dễ tiếp cận hơn và “có thể lắng nghe được”. Nói như vậy không có nghĩa là
chúng tôi thay thế giáo viên trong lớp được. Điều này có nghĩa là chúng tôi tạo
ra những nguồn lực cá nhân hóa và phụ thêm, mặc dù sự thật là chúng tôi đang dạy
học ở quy mô rộng lớn. Và tôi cũng nên nhắc đến là mỗi một video mà tôi giảng trên MOOC đều là bài giảng tốt nhất về chủ đề
đó mà tôi đã từng giảng trong đời mình.
Các lớp trực tuyến
giúp cho việc ra câu hỏi trắc nghiệm thuận tiện hơn. Kiểm tra, hóa ra là, một
trong những cách tốt nhất mà chúng ta có thể học. Kiểm tra các ý chính trong
video, và hàng tá những dạng câu hỏi được biên soạn cẩn thận khác vào mỗi cuối
học phần có thể giúp ích rất nhiều trong việc nâng cao khả năng hiểu bài của
sinh viên. Các nhà giáo dục đôi khi viện dẫn tới các nghiên cứu về vật lý cho
thấy rằng sinh viên không thực sự học từ các giải thích kỹ lưỡng – họ học từ việc
làm sai. Nhưng vật lý, không giống như nhiều môn khác, có đầy rẫy những khái niệm
bị hiểu sai từ trước khiến cho sinh viên bỏ qua các giải thích cũ bởi vì họ tưởng
họ đã hiểu – một kiểu tư duy “lún sâu” gọi là “Einstellung”. Lỗi thường xuyên mắc
phải khi gặp các câu hỏi đố trực truyến có thể thúc ép sinh viên vật lý hay bất
kỳ môn nào phải ôn lại cách giải thích cho một khái niệm tưởng chừng đã nắm rõ.
Vì vậy mà các
video trực tuyến cho phép sinh viên làm những gì mà não bộ tự nhiên đã chuẩn bị
sẵn – đầu tiên là tập trung, sau đó là tua lại những đoạn khó, sau đó là nghỉ
giải lao ngắn. Họ có thể tự kiểm tra, và tôi cũng có thể kiểm tra họ. Họ có thể
ngưng video và nhìn vào khoảng không, suy nghĩ đến khi bất thần, họ hiểu ra. Họ
có thể vào diễn đàn thảo luận với một bạn ở Zimbawe hay ở Chile. Hầu hết những
điều này là bất khả thi trong một lớp học cổ điển kéo dài 2 tiếng. (Bạn có bao
giờ thử theo dõi 10 bài tập ví dụ hoàn chỉnh của Định Lý Bayes trong 2 giờ học
chưa?)
Không phải tất cả
MOOCs đều tuyệt hảo. Nhưng chúng đang trở nên đa dạng hơn nhiều và cả gia tăng
về chất lượng, điều mà MOOCs có thể mang lại cho sinh viên – những người đang
hoặc không theo học tại đại học – là nằm ở lựa chọn. Sinh viên có thể học thử rất
nhiều môn và lớp học, và nếu họ không thấy thích, họ có thể bỏ qua và đi tiếp.
Và MOOCs tự thân nó không phải là câu trả lời cho một nền giáo dục hoàn thiện.
Điều đó phải đến từ nhiều nguồn: MOOCs, các nguồnh học liệu từ các công ty xuất
bản giáo trình, và bản thân người giáo viên. Các công cụ trực tuyến không phục
vụ như một cách thay thế cho người giảng viên trực tiếp – mà là, chúng phục vụ
như những nguồn cung cấp dịch vụ gia sư riêng cao cấp và là nguồn kiểm tra tuyệt
vời với tốc độ chấm điểm cực kỳ nhanh.
Terry và tôi làm
“Học Cách Học” với chi phí không quá 5000 đô la, và hầu hết là tại tầng hầm
nhà tôi. Tôi không có kinh nghiệm chỉnh sửa film từ trước – thực ra, tôi còn
không thể bấm được cái nút đóng ống kính máy ảnh. Hầu hết những hình ảnh động
cho khóa học được tạo ra bằng trình chiếu PowerPoint đơn giản. Vậy nên tôi có một
ý để phản biện đối với những người chỉ trích MOOC. Hãy làm một khóa học trực
tuyến của riêng bạn. Quay phim lại bài giảng thú vị nhất, nhiều thông tin thấu
đáo nhất mà bạn từng giảng trong đời. Nếu bạn không nghĩ bài giảng của bạn đủ tốt,
hãy quay lại cho đến khi bạn hài lòng. Hãy công bố video của bạn cho hàng triệu
sinh viên trên toàn cầu, không chỉ cho một vài sinh viên có đặc quyền trong lớp
riêng của bạn. Hãy biên soạn bộ câu hỏi cho những khái niệm mà bạn thường thấy
sinh viên mắc lỗi trong lớp. Bạn sẽ nhận
ra tiềm năng và sức mạnh to lớn mà MOOCs đem lại. Quan trọng hơn nữa, bạn sẽ tự
mình trở thành một bằng chứng hoàn hảo cho tính cởi mở của một nền giáo dục lý
tưởng mà ở đó sinh viên có thể tham gia học tập từ khắp mọi nơi trên thế giới.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét